vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Kiều D được ly hôn với anh Trần Nam Du. Về con chung: Giao cho anh Trần Nam Du được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Đặng Kiều Hương, sinh ngày 25/5/2009 và Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 15/3/2011. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Trần Khả Chạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Kiều D - Trần Nam Du"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NG
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02 - 02 - 2024
“Về việc xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Minh Sơn

2. Ông Đào Văn Tươi

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện NG, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 02 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện NG xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023. Về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Kiều D, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn Rạch Gốc, huyện NG, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Trần Nam Du, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn Rạch Gốc, huyện NG, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 và các lời khai của nguyên đơn chị Đặng Kiều D trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Trần Nam Du tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước vào năm 2012, hôn nhân giữa tôi và anh Du là tự nguyện.

Nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn là do: Vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng chung sống với nhau không hòa hợp, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay bản thân xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể duy trì bền lâu được nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Trần Nam Du.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 con chung tên Trần Khả Chạo, sinh ngày 28/11/2002; Trần Đặng Kiều Hương, sinh ngày 25/5/2009 và Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 15/3/2011. Hiện nay cháu Hương và cháu Phúc đang sống với anh Trần Nam Du, sau khi ly hôn tôi đồng ý giao con cho anh Du nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Trần Khả Chạo, sinh ngày 28/11/2002 đã trưởng thành không bị mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trần Nam Du, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh Du biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 nhưng anh Du không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ anh Du để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Du không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị D. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Du vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh Du theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Trần Nam Du có nơi cư trú trên địa bàn huyện NG, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện NG theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của chị Đặng Kiều D khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Nam Du nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Du kết hôn ngày 01/02/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đối với anh Du, Tòa án đã triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng anh Du vắng mặt không lý do, đồng thời anh Du cũng không có văn bản về ý kiến của mình gửi đến Tòa án chứng tỏ anh Du đồng ý với yêu cầu của chị D. Hội đồng xét xử xét thấy, chị D và anh Du đã ly thân từ năm 2018 đến nay thời gian dài nhưng anh Du không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh Du là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 03 con chung tên Trần Khả Chạo, sinh ngày 28/11/2002; Trần Đặng Kiều Hương, sinh ngày 25/5/2009 và Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 15/3/2011. Hiện nay cháu Hương và cháu Phúc đang sống với anh Trần Nam Du, sau khi ly hôn chị D đồng ý giao con cho anh Du nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Trần Khả Chạo, sinh ngày 28/11/2002 đã trưởng thành không bị mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho cháu Hương và cháu Phúc thì anh Du có đủ điều kiện. Xét thấy, cháu Hương và cháu Phúc đã sống chung với anh Du từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần đồng thời phù hợp với đơn trình bày ngày 28/10/2023 thì cháu Hương và cháu Phúc có nguyện vọng muốn được ở với anh Du. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho anh Du nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với chị D là mẹ của cháu Hương và cháu Phúc vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị D và anh Du không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D trình vợ chồng không có tài sản chung, anh Du không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì chị D và anh Du có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.

Về nợ chung: Chị D trình vợ chồng không có nợ chung, anh Du không ý kiến gì nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Kiều D được ly hôn với anh Trần Nam Du.

- Về con chung: Giao cho anh Trần Nam Du được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Đặng Kiều Hương, sinh ngày 25/5/2009 và Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 15/3/2011. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Trần Khả Chạo, sinh ngày 28/11/2002 đã trưởng thành không bị mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Chị Đặng Kiều D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chị D có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0020631 ngày 23/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NG được chuyển thu.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Du có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết công khai bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ