vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tú H với anh Phạm Hữu L.

Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Ngọc T, sinh năm 2013 cho chị Lê Thị Tú H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị H không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con. Giao một con chung là cháu Phạm Hữu T, sinh ngày 27-8-2017 cho anh Phạm Hữu L trực tiếp trông nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tú H với anh Phạm Hữu L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2024.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Quang Truyền;

2. Ông Lê Văn Thuận.

- Thư ký phiên tòa: bà Trương Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Lê Thị Tú H, sinh năm 1982; địa chỉ: số nhà 1B, hẻm 12 đường T, khu phố L, phường T, thị xã H, tỉnh T (có mặt).

* Bị đơn: anh Phạm Hữu L, sinh năm 1980; địa chỉ: số nhà 01, hẻm số 29 đường N, ấp L, xã N, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Tú H trình bày:

Chị và anh Phạm Hữu L chung sống từ năm 2012, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố T, tỉnh T. Vợ chồng anh chị chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh L thường xuyên ăn nhậu xong về gây sự đánh đập chị. Anh chị đã ly thân từ cuối năm 2023, không còn sống chung. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên nay chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Lê Thị Ngọc T, sinh ngày 03-10-2013 và Phạm Hữu T, sinh ngày 27-8-2017. Cháu T mang họ Lê là do thời điểm làm giấy khai sinh cho Cháu T chị và anh L chưa đăng ký kết hôn. Từ ngày anh chị ly thân thì Cháu T sống chung với chị còn cháu T sống chung với anh L. Nay yêu cầu ly hôn, tôi yêu cầu được nuôi dưỡng Cháu T, giao cháu T lại cho anh L nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến và yêu cầu của bị đơn anh Phạm Hữu L trình bày:

Anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tú H với anh Phạm Hữu L. Về con chung: giao con chung là cháu Lê Thị Ngọc Thảo, sinh ngày 03-10-2013 cho chị Lê Thị Tú H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, giao con chung là cháu Phạm Hữu Trọng, sinh ngày 27-8-2017 cho anh Phạm Hữu L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, ghi nhận chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu nên không giải quyết.

Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: chị Lê Thị Tú H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Hữu L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: chị H và anh L chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh T nên hôn nhân của chị Lê Thị Tú H và anh Phạm Hữu L là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo chị H thì hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Anh L đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị H. Xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tú H đối với anh Phạm Hữu L, chị H được ly hôn với anh L.

Về con chung: xét yêu cầu của chị H yêu cầu nuôi dưỡng 01 con chung là Lê Thị Ngọc Thảo và giao 01 con chung là cháu Phạm Hữu Trọng, sinh ngày 27-8-2017 cho anh L nuôi dưỡng thì thấy rằng. Từ ngày anh chị ly thân cho đến nay thì chị Lê Thị Tú H chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị Ngọc Thảo, sinh năm 2013, anh Phạm Hữu L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T. Cháu T cũng có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ, do đó chấp nhận yêu cầu của chị H, giao 01 con chung là cháu Lê Thị Ngọc Chảo, sinh năm 2013 cho chị H, giao 01 con chung là cháu Phạm Hữu Trọng cho anh Phạm Hữu L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H, anh L không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Tú H với anh Phạm Hữu L.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Ngọc T, sinh năm 2013 cho chị Lê Thị Tú H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị H không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con. Giao một con chung là cháu Phạm Hữu T, sinh ngày 27-8-2017 cho anh Phạm Hữu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn chị H, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị H, anh L không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Lê Thị Tú H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0021965 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, chị H đã thi hành xong tiền án phí.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ