vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L

Về hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H Về con chung: Các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/3/2024
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Em

2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 411/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023, về việc: “Tranh chấp về ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị L – Sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn PT, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H – Sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn PT, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Tại phiên tòa có mặt bà L có mặt, vắng mặt ông H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2023, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau chung sống với nhau từ năm 1998, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận ngày 03/3/1998, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 968 ngày 03/3/1998 của UBND xã P. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xãy ra mâu thuẫn hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, tính cách trái ngược nhau nên vợ chồng thường xuyên cải vã, cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng nặng nề, hai vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm tới ai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị L1, sinh ngày 01/7/1998; Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/9/2000 và Nguyễn Thị H1, sinh ngày 29/12/2003. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: Bà Trần Thị L yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn H

-Về con chung: Các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải và tiến hành niêm yết hợp lệ cho bị đơn nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn không thực hiến quyền và nghĩa vụ của mình.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trần Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn H Đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại thôn PT, xã P, huyện B, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Về sự vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Văn H tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, ông H đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: “Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông H tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.

Về nội dung:

[3.a] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà L và ông H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận ngày 03/3/1998 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do tính cách không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cải vã qua lại, mâu thuẫn xãy ra liên tục trong thời gian dài, cuộc sống luôn căng thẳng nặng nề. Vợ chồng vẫn còn chung sống với nhau nhưng không ai quan tâm tới ai, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông H cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân của mình. Tại phiên tòa, bà L kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà L xin ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.b] Về con chung: Các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết

[4.c] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H

-Về con chung: Các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không giải quyết.

- Về tài sản chung, và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0019811 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Thuận. Bà Trần Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 05/3/2024). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ