vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không công nhận chị Ong Thị O và anh Nguyễn Hoàng T là vợ chồng. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quỳnh Như, sinh ngày 01/12/2018; Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 15/6/2012 và Nguyễn Thị Hằng, sinh ngày 09/4/2006 cho chị Ong Thị O nuôi dưỡng, hiện chị O đang nuôi dưỡng được giữ nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ong Thị Oanh - Nguyễn Hoàng Tặng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/01/2024
V/v “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Như Ý.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Hoàng.

2. Ông Lê Văn Lil.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi là thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà:

Ông Đặng Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2023/TLST – HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2023/QĐXX-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyeân ñôn: Chị Ong Thị O, sinh năm 1984;

Bò ñôn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987;

Cùng địa chỉ: ấp P, xã A, huyện B, tỉnh B.

(Chị O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/8/2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng chị Ong Thị O trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2006 anh chị tự nguyện yêu thương chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Nguyên nhân ly hôn: Do mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện anh chị đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị cũng không có biện pháp để hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Quỳnh Như, sinh ngày 01/12/2018; Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 15/6/2012 và Nguyễn Thị Hằng, sinh ngày 09/4/2006, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh B phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Nội dung:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không công nhận chị Ong Thị O và anh Nguyễn Hoàng T là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quỳnh Như, sinh ngày 01/12/2018; Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 15/6/2012 và Nguyễn Thị Hằng, sinh ngày 09/4/2006 cho chị Ong Thị O nuôi dưỡng, hiện chị O đang nuôi dưỡng được giữ nguyên.

Anh Nguyễn Hoàng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm hôn nhân chị Ong Thị O phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Ong Thị O khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T, có địa chỉ cư trú tại ấp Phước Thắng, xã An Phúc, huyện B, tỉnh B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh B.

Chị Ong Thị O có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Hoàng T vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2006 anh chị tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân giữa anh chị không được pháp luật bảo vệ. Nay chị O yêu cầu ly hôn, không giải quyết cho anh chị ly hôn mà cần tuyên bố anh chị không phải là vợ chồng.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã triệu tập anh Nguyễn Hoàng T nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không lý do. Do dó, anh tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của anh, nên cần chấp nhận theo lời trình bày của chị O.

Về con chung: Trong thời gian chị O và anh T sống ly thân thì con chung do chị O nuôi dưỡng. Đồng thời em Hằng, em Quỳnh đều có nguyện vọng sống với chị O, nên cần tiếp tục giao cho chị O nuôi dưỡng là phù hợp.

Chị Ong Thị O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Anh Nguyễn Hoàng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Ong Thị O phải nộp án phí số tiền 300.000đ, chị O đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009536 ngày 06/10/2023 được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9,14, 15, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không công nhận chị Ong Thị O và anh Nguyễn Hoàng T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quỳnh Như, sinh ngày 01/12/2018; Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 15/6/2012 và Nguyễn Thị Hằng, sinh ngày 09/4/2006 cho chị Ong Thị O nuôi dưỡng, hiện chị O đang nuôi dưỡng được giữ nguyên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.

Anh Nguyễn Hoàng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Ong Thị O phải nộp án phí số tiền 300.000đ, chị O đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009536 ngày 06/10/2023 được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ