- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T xin ly hôn L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 01 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mạc Thị Chiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thanh Xuân
2. Bà Trương Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2023/TL.ST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
2. Bị đơn: Bà Lê Hồng L, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Lê Văn T1 trình bày:
Trước đây, ông và bà Lê Hồng L có quen biết, sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào năm 2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách chăm sóc gia đình và giáo dục con. Ngoài ra, ông còn phát hiện bà L còn có tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung. Từ đó hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên ông yêu cầu được ly hôn với bà L.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lê Xuân L1 (nữ), sinh ngày 11/11/2012 và cháu Lê Xuân N (nữ), sinh ngày 12/5/2015, hiện đang sống chung với ông. Ông T1 yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L1 và N đến khi thành niên và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Lê Hồng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn T1 được ly hôn với bà Lê Hồng L; Về con chung: Giao cháu Lê Xuân L1 (nữ), sinh ngày 11/11/2012 và cháu Lê Xuân N (nữ), sinh ngày 12/5/2015 cho ông T1 nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà L chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Văn T1 khởi kiện đối với bà Lê Hồng L yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung nên xác định là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Hồng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, ông Lê Văn T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Lê Văn T1 và bà Lê Hồng L đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào năm 2012. Hôn nhân giữa ông T1, bà Lụa l tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn và không bị ép buộc, không thuộc trường hợp cấm kết hôn nên hôn nhân là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ông T1 cho rằng nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách chăm sóc gia đình và giáo dục con, vợ chồng còn thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung. Từ đó hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Ông T1 xác định hiện tại không còn tình cảm với bà L nên cương quyết ly hôn.
Đối với bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng vẫn không đến, thể hiện bà L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đến thời điểm giải quyết vụ án các đương sự vẫn không có biện pháp nào giải quyết mâu thuẫn, vợ chồng hiện đã ly thân và hôn nhân đã ở trong tình trạng mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T1 được ly hôn với bà L.
Xét yêu cầu nuôi con chung của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T1, bà L có 02 con chung là cháu Lê Xuân L1 (nữ), sinh ngày 11/11/2012 và cháu Lê Xuân N (nữ), sinh ngày 12/5/2015, hiện đang sống chung với ông T1. Cháu L1 và N có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông T1 sau khi cha mẹ ly hôn. Hiện tại vẫn chưa ghi nhận được ý kiến của bà L về vấn đề con chung. Do đó, nhằm ổn định cuộc sống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đối với các cháu nên giao cho ông T1 nuôi dưỡng các cháu đến khi đủ 18 tuổi. Ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên bà L chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông T1 khai là không có, nhưng do chưa làm việc được với bà L nên chưa xác định được. Do đó, chưa xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Lê Văn T1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Từ những tình tiết, căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của ông T1 cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn T1 được ly hôn với bà Lê Hồng L. Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 23/07/2012 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông T1, bà L không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Xuân L1 (nữ), sinh ngày 11/11/2012 và cháu Lê Xuân N (nữ), sinh ngày 12/5/2015 cho ông Lê Văn T1 nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Bà Lê Hồng L chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê Văn T1 phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông T1 đã nộp theo biên lai số 0004147 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (ông T1 đã nộp xong).
5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Hậu Giang;THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Các đương sự; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - UBND xã Tân Phú Thạnh; - Lưu hồ sơ vụ án. Mạc Thị Chiên |