- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi quyền nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn * Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ TỈNH Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ- ST Ngày: 22/3/2024 “V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ, TỈNH Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Bẩy.
2. Ông: Trần Hữu Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà: Trần Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1987. Nơi thường trú: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q (có đơn xin xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P (tên gọi khác Nguyễn Văn Nam), sinh năm 1981. Nơi thường trú: thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Nguyễn Văn Nam) tại Tòa án nhân dân thị xã Đ và Tòa án đã ban hành Bản án số 26/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015, tại phần quyết định đã tuyên, về con chung chị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 và Nguyễn Gia M, sinh ngày 16/11/2012 cho đến khi các con chung thành niên. Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Hiện nay, con Nguyễn Gia B đang do anh Nguyễn Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và nguyễn vọng của con Nguyễn Gia B cũng muốn được ở với bố là anh Nguyễn Văn P. Do đó chị làm đơn đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 từ chị sang cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Do đó không có lời khai thể hiện quan điểm của anh P.
* Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Bản án số 26/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Đ; 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Thị L (bản công chứng); 01 Giấy khai sinh cháu Nguyễn Gia Bảo và 01 Giấy khai sinh cháu Nguyễn Gia Minh đều là bản sao.
* Các chứng cứ Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án: Bản tự khai của chị Hoàng Thị L ngày 13/11/2023; 01 Biên bản lấy lời khai của con chung Nguyễn Gia Bảo ngày 22/12/2023; 01 biên bản làm việc tại nhà anh Nguyễn Văn P ngày 15/01/2024; Biên bản xác minh ngày 18/3/2024.
* Biên bản làm việc ngày 15/01/2024 tại thôn Xuân B, xã B, thị xã Đ, có nội dung thể hiện: Tòa án đã gặp và làm việc với anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn Nam) tại nhà anh P, anh P trình bày: Anh và chị Hoàng Thị L ly hôn từ năm 2015 theo Bản án của Tòa án thì chị L là người trực tiếp nuôi cả 02 con chung. Tuy nhiên do chị L hành hạ cháu Nguyễn Gia B khiến cháu không thể ở cùng và đã bỏ về ở cùng với anh. Anh đã trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Chị L khởi kiện tại Tòa án, anh P cho rằng anh không liên quan, do đó, những lần Tòa án gửi giấy triệu tập, thông báo hòa giải anh nắm được thông tin nhưng không đến làm việc. Anh có quan điểm là anh có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 03/01/2011 và không yêu cầu chị L cấp dưỡng. Anh P cho rằng không liên quan đến việc khởi kiện nên không đồng ý ký bất cứ văn bản nào của Tòa án, Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh tại các buổi làm việc, tại phiên họp, phiên tòa. Tại buổi làm việc ông Nguyễn Văn H - Công an viên thôn X chứng kiến và cho biết: Ông được biết cháu Nguyễn Gia B hiện nay đang do anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, anh P là công nhân tại Công ty than V, có thu nhập khoảng hơn 20.000.000 đồng/tháng, có nhà riêng, có chỗ ở ổn định tại thôn Xuân Bình, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q.
* Biên bản xác minh ngày 18/3/2024 tại thôn Xuân Bình, xã B, thị xã Đ, ông Nguyễn Văn L - Trưởng thôn X cung cấp có nội dung:
Anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn N) là công dân sinh sống tại thôn X. Anh P và chị Hoàng Thị L đã ly hôn từ năm 2015. Sau khi ly hôn chị L được giao trực tiếp nuôi 02 con chung. Tuy nhiên thời gian gần đây cháu Nguyễn Gia B (là con chung của anh P và chị L) thường xuyên sinh sống tại nhà anh P, do anh P nuôi dưỡng. Quá trình sinh sống tại địa phương, anh P là công dân luôn chấp hành các đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như quy định của địa phương. Hiện nay anh P đang làm nghề lao động tự do, đã có nhà riêng, chỗ ở ổn định tại thôn X, xã B.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tinh Q phát biểu như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết, xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L khởi kiện “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Văn P có nơi thường trú tại thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị L có đơn xin xử vắng mặt và anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp L lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của nguyên đơn chị Hoàng Thị L yêu cầu đổi người trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 cho anh Nguyễn Văn P là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ thể hiện: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Đ, tỉnh Q vào ngày 08/02/2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống chị L và anh P có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 và Nguyễn Gia M, sinh ngày 16/11/2012. Do có vợ chồng có mâu thuẫn nên chị Hoàng Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Nguyễn Văn Nam) tại Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q. Trong phần quyết định của Bản án số 26/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015, đã tuyên: Chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn Nam); về con chung: Chị Hoàng Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 và Nguyễn Gia M, sinh ngày 16/11/2012 cho đến khi các con chung thành niên. Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quy định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về thực tế con chung Nguyễn Gia B thường xuyên về chung sống với bố là anh Nguyễn Văn P tại thôn X, xã B, thị xã Đồng Triều, tỉnh Q.
Đồng thời anh P cũng có chỗ ở ổn định cũng như có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo được nuôi dưỡng con chung. Mặt khác lời khai của con chung Nguyễn Gia B cũng thể hiện quan điểm muốn về ở chung với bố là anh P.
Tuy anh Nguyễn Văn P từ chối không đến Tòa án làm việc nhưng nội dung biên bản làm việc vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, tại nhà riêng của anh Nguyễn Văn P ở thôn X, xã B, thị xã Đ cũng thể hiện quan điểm của anh P: Anh và chị L ly hôn từ năm 2015, chị L là người trực tiếp nuôi hai con chung. Tuy nhiên, chị L hành hạ cháu Nguyễn Gia B khiến cháu không thể ở cùng và đã bỏ về nhà ở cùng với anh. Khi cháu Bảo về anh cũng nuôi dưỡng chăm sóc cháu. Việc chị L khởi kiện anh không liên quan, anh không tham gia, không ký bất kỳ một giấy tờ gì của Tòa án. Nếu cháu B về sống cùng anh thì anh sẽ chăm sóc và cũng không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc thay đổi quyền nuôi con là phù hợp với ý chí của các đương sự và con chung Nguyễn Gia B, phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của chị Hoàng Thị L được chấp nhận nên anh Nguyễn Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung tên là Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/01/2011 cho anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn N) trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Hoàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Hoàng Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung và không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh P và các thành viên trong gia đình anh P không được cản trở việc thăm nom con của chị Hoàng Thị L.
2. Về án phí:
- Buộc anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn N) phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho chị Hoàng Thị L 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Q, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003280 ngày 13 tháng 10 năm 2023.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q; - Đương sự; - VKSND thị xã Đ; - Chi cục THADS thị xã Đ; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ TỈNH Q BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi……. giờ…….phút, ngày 22 tháng 3 năm 2024. Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tuấn Anh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bẩy và ông Trần Hữu Trung. Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 181/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về yêu cầu thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn giữa: xã Đ, tỉnh Q (có đơn xin xử vắng mặt). Nơi thường trú: thôn Xuân Bình, xã B, thị xã Đ, tỉnh Q (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt). phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí về áp dụng điều luật. 2. Về phần nội dung quyết định: tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Văn P (tức Nguyễn Văn Nam) trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Hoàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con. và không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Nguyễn Văn P và các thanh viên trong gia đình anh P không được cản trở quyền thăm nom con chung của chị Hoàng Thị L. (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Q, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003280 ngày 13 tháng 10 năm 2023. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí về án phí. thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí về quyền kháng cáo. Nghị án kết thúc vào hồi....... giờ....... phút, ngày 22 tháng 3 năm 2024. và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phan Tuấn Anh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tuấn Anh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1987. Nơi thường trú: thôn T, xã B, thị 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P (tên gọi khác Nguyễn Văn Nam), sinh năm 1981. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại 1. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn * Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L về việc thay đổi người trực Giao con chung tên là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 03/01/2011 cho anh Nguyễn Chị L có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản * Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn P (tức Nguyễn Văn Nam) phải nộp 300.000đ - Trả lại cho chị Hoàng Thị L 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tuấn Anh |