vanban.org

Bản án 16/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị R đối với ông Khấu Văn L về việc tranh chấp nợ hụi.

Buộc ông Khấu Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị R số tiền nợ hụi là 7.900.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng ông L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Đỗ Thị R - Khấu Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị R đối với ông Khấu Văn L về việc tranh chấp nợ hụi.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GIÁ RAI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST
Ngày 08-03-2024
V/v Tranh chấp nợ hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ca Kiều Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2023/TLST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị R, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Ông Khấu Văn L, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

(Bà R và ông L có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/01/2024, lời khai trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị R trình bày: Ngày 15/02/2012 ông Khấu Văn L có mở 01 dây hụi trị giá 1.000.000 đồng, có 27 chưng, bà R tham gia 01 chưng, bà R đóng hụi được 14 lần với số tiền 14.000.000 đồng thì ông L đã ngưng hụi. Trong quá trình giao dịch hụi thì bà sử dụng tiền của cá nhân và chỉ giao dịch hụi với cá nhân ông L, việc giao nhận tiền hụi không có ký nhận giấy tờ gì. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2024, bà R trình bày do ông L chỉ thừa nhận chỉ nhận số tiền bà R đóng hụi là 7.900.000 đồng và bà R cũng không có giấy tờ chứng minh việc đóng hụi cho ông L, từ lúc ngưng hụi cho đến nay ông L chưa trả cho bà số tiền nợ hụi nào, bà R đồng ý nhận lại số tiền 7.900.000 đồng. Tại phiên tòa, bà R giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông L trả số tiền nợ hụi 14.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Khấu Văn L trình bày: Ông L thừa nhận ngày 15/02/201, ông L có mở 01 dây hụi trị giá 1.000.000 đồng, có 27 chưng, bà R tham gia 01 chưng, bà R đóng hụi được 14 lần với số tiền 7.900.000 đồng, sau đó các hụi viên không đóng hụi đầy đủ ông L không còn khả năng lấp hụi nên đã tuyên bố ngừng hụi. Việc bà R khởi kiện yêu cầu trả 14.000.000 đồng cho 14 lần đóng hụi là không đúng thực tế, ông L đã nhận 14 lần đóng hụi của bà R với số tiền 7.900.000 đồng thì ông lầm đồng ý trả 7.900.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2024, ông L trình bày có nhiều lần trả lại tiền hụi cho bà R với số tiền tổng cộng là 4.000.000 đồng. Nhưng tại phiên tòa, ông L xác định sau khi kiểm tra lại giấy tờ thì ông L chưa trả khoản tiền hụi nào cho bà R. Do đó, ông L đồng ý trả bà R số tiền hụi đã nhận là 7.900.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp nợ hụi”. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà R, buộc ông L có nghĩa vụ trả cho bà R số tiền nợ hụi là 7.900.000 đồng và tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Đối với yêu cầu của bà R không được chấp nhận là 6.100.000 đồng, bà R phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Đối với án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông L phải chịu theo quy định pháp luật đối với số tiền phải trả cho bà R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện ngày 08/01/2024 của nguyên đơn có căn cứ xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp nợ hụi” do bị đơn Khấu Văn L cư trú tại: Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất có việc chơi hụi xảy ra trên thực tế. Do đó, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà R cho rằng đã đóng hụi cho ông L 14 lần với số tiền 14.000.000 đồng, nhưng bà R không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông L nhận của bà số tiền này. Trong khi đó, ông L chỉ thừa nhận có nhận 14 lần tiền hụi của bà R với số tiền 7.900.000 đồng và chưa trả cho bà R khoản tiền nào. Do đó, không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bà R, mà chỉ có căn cứ buộc ông L trả số tiền nợ hụi theo sự thừa nhận của ông L. Vì vậy, Hội đồng xét xử, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà R, buộc bị ông L trả bà R số tiền nợ hụi 7.900.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bà R buộc ông L trả số tiền nợ hụi còn lại là 6.100.000 đồng.

Xét ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về việc giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị đơn ông L có nghĩa vụ trả bà R số tiền 7.900.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự có giá ngạch với số tiền 395.000 đồng. Đối với số tiền yêu cầu của bà R không được chấp nhận là số tiền 6.100.000 đồng, bà R phải chịu án dân sự có giá ngạch là 305.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 178; Điều 227 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 7 Điều 4; khoản 2 Điều 10; Điều 16 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường;

- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị R đối với ông Khấu Văn L về việc tranh chấp nợ hụi.

Buộc ông Khấu Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị R số tiền nợ hụi là 7.900.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng ông L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị R về việc yêu cầu ông Khấu Văn L trả số tiền nợ hụi 6.100.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

3.1. Buộc ông Khấu Văn L phải nộp 395.000 đồng (ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng), tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai khi án có hiệu lực pháp luật.

3.2. Buộc bà R phải nộp 305.000 đồng (ba trăm lẻ năm nghìn đồng), bà R đã nộp 350.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0000406 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được đối trừ. Bà R được hoàn lại số tiền 45.000 đồng. 4. Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thõa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

5. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Nơi nhận:

Cỡ chữ