vanban.org

Bản án 16/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đòi bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H trả tiền nợ vay và tiền nợ góp hụi.

Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 297.490.000 đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) (Gồm tiền nợ vay 200.000.000 đồng, tiền nợ hụi 97.490.000 đồng). Phần bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ phải trả là 148.745.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Mỹ - Nguyễn Thị Mười"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đòi bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H trả tiền nợ vay và tiền nợ góp hụi.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST
Ngày: 22 – 02 - 2024
V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi và vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Lợi

Ông Nguyễn Văn Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thái Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 374/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên Tòa số: 12/2024/QĐST- DS ngày 01 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh T.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Phạm Quang H, sinh năm: 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh T.

Tham gia tố tụng theo Hợp đồng ủy quyền đề ngày 14/6/2023.

- Bị đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn H, sinh năm: 1961 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2023, bản tự khai ngày 21/12/2023, biên bản hòa giải ngày 25/12/2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Quang H trình bày:

Bà Nguyễn Thị M là hụi viên có trực tiếp tham gia chơi trong 03 dây hụi, hụi tháng do bà Nguyễn Thị M làm chủ hụi. Việc chơi hụi, đóng tiền hụi sống, các bên chỉ thỏa thuận miệng, không có lập thành văn bản ký xác nhận, hình thức chơi hụi ai bỏ thăm cao thì được hốt, chủ hụi có hưởng huê hồng. 03 dây hụi bà M chơi, bà M chưa hốt thì chủ hụi là bà M tự ý đơn phương chấm dứt việc chơi hụi. Cụ thể 03 dây hụi nguyên đơn bà M tham gia chơi như sau:

- Dây hụi thứ 1: Khui ngày 15/01/2022 âm lịch, có mệnh giá 3.000.000 đồng, dây hụi có 24 phần, tháng khui 01 lần bà M chơi 02 phần. Dây hụi này bà M đóng được 14 lần hụi sống số tiền là 84.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ 2: Khui ngày 30/6/2022 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000 đồng, dây hụi có 25 phần, tháng khui 02 lần, bà M chơi 01 phần. Dây hụi này bà M đóng được 16 lần hụi sống số tiền là 64.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ 3: Khui ngày 05/8/2022 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000 đồng, dây hụi có 25 phần, tháng khui 02 lần, bà M chơi 02 phần. Dây hụi này bà M đóng được 13 lần hụi sống số tiền là 26.000.000 đồng.

Từ lúc bà M ngưng hụi đến nay, chưa có trả tiền hụi cho bà M. Tổng số tiền hụi còn nợ bà M chưa trả là 174.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà M có cho bà M vay tiền, cho vay làm 03 lần, 03 lần cho vay không có làm giấy tờ, không lãi suất, vay không có kỳ hạn với tổng số tiền cho vay là 200.000.000 đồng. Cụ thể:

- Lần 01 ngày 30/01/2018 cho bà M vay 80.000.000 đồng.

- Lần 2 cuối năm 2018 cho bà M vay 20.000.000 đồng.

- Lần 3 đầu năm 2020 cho bà M vay 100.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H phải liên đới trả lại cho nguyên đơn số tiền 374.000.000 đồng (Gồm tiền hụi 174.000.000 đồng, tiền vay 200.000.000 đồng), không yêu cầu trả lãi suất.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Quang H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 21/02/2024.

* Tại bản tự khai ngày 21/12/2023, biên bản hòa giải ngày 25/12/2023 và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà thừa nhận bà có tổ chức rất nhiều dây hụi do bà làm chủ, bà Nguyễn Thị M có tham gia chơi 03 dây hụi đúng như đơn khởi kiện và trình bày. Tuy nhiên, số tiền hụi sống của 03 dây hụi mà phía nguyên đơn tham gia chơi, trình bày và khởi kiện yêu cầu là chưa đúng thực tế số tiền hụi sống đã đóng. Cụ thể: Dây hụi thứ nhất, khui ngày 15/01/2022 âm lịch, có mệnh giá 3.000.000 đồng bà M đóng được 14 lần hụi sống số tiền là 55.200.000 đồng. Dây hụi thứ 2, khui ngày 30/6/2022 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000 đồng bà M đóng được 16 lần hụi sống số tiền là 23.080.000 đồng. Dây hụi thứ 3, khui ngày 05/8/2022 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000 đồng, dây hụi có 25 phần, tháng khui 02 lần, bà M đóng được 13 lần hụi sống số tiền là 19.210.000 đồng. Tổng cộng 03 dây hụi, bà M đóng được hụi sống số tiền là 97.490.000 đồng. Việc bà làm chủ hụi, chồng bà là ông Nguyễn Văn H có biết. Tuy nhiên khi bể hụi, ông H cự cải với bà và bỏ đi làm không về nhà. Vợ chồng bà sống chung có với nhau 04 con chung và đã ly hôn. Về tiền vay bà thừa nhận bà có vay của bà M 03 lần số tiền 200.000.000 đồng chưa trả. Bà đồng ý trả số tiền nợ cho bà M, trả dần hàng tháng 4.000.000 đồng. Việc bà làm chủ hụi, vay tiền chồng bà là ông Nguyễn Văn H có biết. Tuy nhiên khi bể hụi, ông H cự cải với bà và bỏ đi làm không về nhà. Vợ chồng bà sống chung có với nhau 04 con chung và đã ly hôn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đều vắng mặt nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Quang H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 21/02/2024, ông Nguyễn Văn H người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng ông Hồng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H, ông H là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền 374.000.000 đồng (Gồm tiền nợ vay 200.000.000 đồng, tiền nợ góp hụi 174.000.000 đồng). Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tiền vay: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa án sơ thẩm hôm nay, bị đơn bà M thừa nhận bà có vay tiền của bà M 03 lần số tiền 200.000.000 đồng và hiện nay còn nợ bà M số tiền vay này chưa trả, phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà M không phải chứng minh và Hội đồng xét xử xác định bà M có vay tiền và hiện nay còn nợ bà M số tiền vay chưa trả 200.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp. Số tiền nợ vay 200.000.000 đồng bà M đến nay chưa trả cho bà M là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay nên nguyên đơn bà M khởi kiện yêu cầu là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền hụi: Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn bà M hoàn toàn thừa nhận, bà là chủ hụi, bà M là hụi viên có tham gia chơi 03 dây hụi đã nêu trên nên Hội đồng xét xử công nhận, nguyên đơn bà M không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, số tiền hụi sống bà M đã đóng thực tế và khởi kiện của 03 dây hụi nêu trên 174.000.000 đồng, bà M không thừa nhận và không đồng ý trả số tiền này; cho rằng nguyên đơn bà M đóng được số tiền hụi sống của 03 dây hụi nêu trên là 97.490.000 đồng và đồng ý, chấp nhận trả số tiền này cho bà M. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chơi hụi, đóng tiền hụi sống giữa các bên không có lập thành văn bản, giấy tờ, biên nhận thể hiện. Nguyên đơn bà M không có chứng cứ nào chứng minh số tiền hụi sống đã đóng cho bà M như đơn khởi kiện trình bày và yêu cầu. Mặc khác, dây hụi thứ 2 khui ngày 30/6/2022 âm lịch, có mệnh giá 1.000.000 đồng, dây hụi có 25 phần, bà M đóng được 16 kỳ hụi chết số tiền nguyên đơn tính là 64.000.000 đồng là hoàn toàn không đúng. 03 dây hụi đều bị bể nữa chừng, chưa hoàn thành giao dịch (Chưa mãn hụi) nên các bên phải hoàn trả cho nhau số tiền đã nhận (Tiền hụi sống thực tế bà M đã đóng cho bà M) theo sự thừa nhận của bị đơn bà Mười là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu bà M, ông H phải có nghĩa vụ trả số tiền góp hụi 174.000.000 đồng là chưa có căn cứ, phù hợp hoàn Toàn. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M theo sự thừa nhận của bị đơn bà M số tiền hụi là 97.490.000 đồng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 15, 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Như vậy, tổng số tiền nợ bà Mười phải trả cho bà M là 297.490.000 đồng.

Bà Mỹ không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nợ vay và nợ hụi nêu trên. Đây là sự tự nguyện của bà M nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xét đến.

Tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, bà M xin trả dần số tiền nợ nêu trên hằng tháng là 4.000.000 đồng nhưng không được nguyên đơn bà M chấp nhận và pháp luật cũng không quy định cho trả dần, đây là giai đoạn thi hành án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Số tiền nợ 297.490.000 đồng, bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn bà Nguyễn Thị M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H phải cùng liên đới trả nợ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 133/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tình Bến Tre, thì ông H và bà Mi đã ly hôn. Tuy nhiên, số tiền nợ nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bà M và ông H, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 16/5/1986, số giấy công nhận kết hôn 53, quyền số 01 (Bút lục số 42), có với nhau 04 người con chung. Quá trình giải quyết vụ án, ông H không có ý kiến phản hồi đối với số tiền nợ mà nguyên đơn bà M khởi kiện nên xem như ông H đã mặc nhiên thừa nhận. Do đó, xác định đây là nợ chung của vợ chồng bà M, ông H lúc còn chung sống. Bà M khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà M và ông H cùng liên đới trả số tiền nợ 297.490.000 đồng (Gồm tiền nợ vay 200.000.000 đồng, tiền nợ hụi 97.490.000 đồng) là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật tại Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27, khoản 1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Trong đó: phần bà M có nghĩa vụ phải trả là 148.745.000 đồng, phần ông H có nghĩa vụ phải trả là 148.745.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

- Nguyên đơn bà M là người cao tuổi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà M được miễn nộp án phí đối với 01 phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

- Bà M và ông H (Ông H không có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí) phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M được chấp nhận theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể như sau:

- Bà M phải chịu 148.745.000 đồng x 5% = 7.437.200 đồng.

- Ông H phải chịu 148.745.000 đồng x 5% = 7.437.200 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 288, 463, 466, 469, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, khoản 1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 15, 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đòi bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H trả tiền nợ vay và tiền nợ góp hụi.

2. Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 297.490.000 đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) (Gồm tiền nợ vay 200.000.000 đồng, tiền nợ hụi 97.490.000 đồng).

Trong đó:

- Phần bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ phải trả là 148.745.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

- Phần ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ phải trả là 148.745.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

3. Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nợ nêu trên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H mỗi người phải chịu số tiền án phí là 7.437.200 đồng (Bảy triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn hai trăm đồng).

Bà Nguyễn Thị M là người cao tuổi không có nộp tiền tạm ứng án phí nên không có hoàn trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị đơn có mặt tại phiên Tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa Tòa cũng có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ