vanban.org

Bản án 16/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2023/HSST

Ngày: 14/11/2023

HUYỆN TC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và bà Lường Thị Tươi. - Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La. - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Lò Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1966 tại huyện TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Nà Làng, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Pảng, sinh năm 1945 và bà Lò Thị Chất, sinh năm 1945; bị cáo có vợ là Lò Thị Yêu, sinh năm 1966 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07 tháng 8 năm 2023. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, Tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Co Mạ, xã Co Mạ, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa có chứa bột cục màu trắng nghi là Heroine và 07 (bảy) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Lò Văn T khai là Heroine và ma túy tổng hợp).

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: số bột cục màu trắng nghi là Heroine bên trong gói nilon màu xanh có khối lượng 2,12 gam. Trích 0,39 gam trong tổng số 2,12 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu T1 gửi giám định. Còn lại 1,73 gam chất bột màu trắng nghi là Heroine, ký hiệu T2. 07 (bảy) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp bên trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,69 gam. Trích toàn bộ 07 (bảy) viên nén màu hồng, có khối lượng 0,69 gam, ký hiệu T3 gửi giám định. Kết luận giám định số: 1888/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,39 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T3 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,69 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 2,12 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,69 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 07/8/2023, Lò Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Nà Làng, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La sang bản Thẳm Tọ, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên với mục đích đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Thẳm Tọ, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc mông (T không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và 07 (bảy) viên ma túy tổng hợp với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy vừa mua được ở tay phải, rồi đi bộ vào bụi cây ven đường thuộc khu vực bản Thẳm Tọ, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên san ra một ít Heroine rồi sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong, số Heroine và 07 (bảy) viên ma túy tổng hợp còn lại T gói lại bằng nilon màu xanh và cất giấu vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc sau đó T đi bộ sang xã Co Mạ, huyện TC chơi. Khi T đi đến khu vực bản Co Mạ, xã Co Mạ, huyện TC thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng. Tại bản Cáo trạng số: 199/CT- VKSTC ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 1,73 gam Heroine, ký hiệu T2; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T. Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. [2] Ngày 07/8/2023 bị cáo Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép trái phép 2,81 gam chất ma tuý (2,12 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,69 gam, loại Methamphetamine) trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Co Mạ, xã Co Mạ, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 07/8/2023; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu

gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1888/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến. Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 2,81 gam chất ma tuý (2,12 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,69 gam, loại Methamphetamine) trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. [4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn T không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Thẳm Tọ, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên vào ngày 07/8/2023. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ. [6] Vật chứng vụ án: Đối với 1,73 gam Heroine, ký hiệu T2 là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. [7] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. 2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn T- TTTPCMT, bắt ngày 07/8/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 077938 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Bên trong có: Chất bột cục màu trắng là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng là 1,73 gam, ký hiệu T2; 01 mảnh nilon màu xanh+ 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC). 3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ