vanban.org

Bản án 16/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Tuyên án 03/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội "Cướp giật tài sản".

- Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38; 50; Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H 05 (Năm) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 20/5/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Ngọc Huy - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội "Cướp giật tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HSST
Ngày: 03/3/2023
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:

Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

- Và các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Trung Thành

Bà Nguyễn Thị Tiên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Thị Quỳnh Nga - Cán bộ Tòa án nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: ông Bùi Anh Tuấn, Kiểm sát viên.

- Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

Đại diện Tòa án nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Trương Văn Phương- Thư ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Nguyễn Văn Minh- Kiểm tra viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/HSST ngày 12/01/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Ngọc H - sinh năm 2000, tại Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Lâm Văn V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962.

Nơi cư trú: ấp 3, xã Tiến H, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

Nơi ở hiện nay: 122/26 đường Vành đai Đại học Quốc gia, khu phố Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Tiền án: Ngày 01/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng X (nay là thành phố Đồng X), tỉnh Bình Phước áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 133; điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46, Điều 47, Điều 18, Điều 52, Điều 53, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình Sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm c, khoản 3, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình Sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 05 năm tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/9/2021, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1993

Nơi cư trú: ấp Thái D, xã Tân T, Hện Đồng P, tỉnh Bình Phước.

(có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Lâm Thị L, sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp 3, xã Tiến H, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 19/5/2022, Lâm Ngọc H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 93P2-184.94 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng thành phố Đồng X đi Hện Đồng Phú. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Thái D, xã Tân T, Hện Đồng, phát hiện chị Nguyễn Thị Tuyết H đeo một túi xách đang điều khiển xe mô tô biển số 93M1-254.47 lưu thông phía trước cùng chiều nên H nảy sinh ý định cướp giật tài sản của Hường. Lúc này, H điều khiển xe mô tô áp sát bên trái xe mô tô chị Hường, dùng tay phải giật túi xách rồi điểu khiển xe mô tô chạy về hướng tỉnh Bình Dương. Khi tới khu vực Mỹ Phước – Tân Vạn thuộc tỉnh Bình Dương, H dừng xe kiểm tra túi xách của chị Hường thấy bên trong có số tiền 6.200.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A51, 04 (bốn) thẻ ATM, 01 (một) thẻ bảo hành đồng hồ, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) chứng minh nhân dân, 03 (ba) thỏi son môi, 02 (hai) chùm chìa khoá. H lấy số tiền 6.200.000 đồng bỏ vào ví của H, các tài sản còn lại để vào túi xách bỏ vào cốp xe mô tô. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đến nhà chị gái Lâm Thị L tại khu phố Tân L, phường Đông H, thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương cất giấu túi xách.

Cùng ngày, sau khi bị cướp giật tài sản chị Hường đến Công an xã Tân T, Huyện Đồng P trình báo. Sau khi bị Cơ quan CSĐT Công an Hện Đồng Phú mời lên làm việc, Lâm Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự Hện Đồng Phú, kết luận:

- 01 (một) túi xách dạng da, màu xám có hoa văn. Mặt ngoài có ký hiệu dạng chữ “GG” màu vàng, túi có 03 ngăn có khóa kéo màu vàng trị giá 120.000 đồng;

- 01 (một) ví dạng da, màu xám có hoa văn, có nút bấm bằng kim loại màu vàng, trên nút bấm có chữ “lovely” trị giá 56.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu đen trị giá 2.400.000 đồng;

- 01 (một) ốp lưng điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51bằng nhựa màu tím đen trắng trị giá 16.000 đồng;

- 01 (một) khóa xe mô tô hiệu Honda, loại Smart key trị giá 140.000 đồng;

- 02 (hai) thỏi son môi hiệu “La Beauté”, dạng hình trụ vuông, màu đen, kích thước (2 x 2 x 7,5) cm trị giá 150.000 đồng;

- 01 (một) thỏi son, màu đồng loại G9 SKIN trị giá 150.000 đồng;

Tổng tài sản trị giá 3.032.000 đồng.

Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 93P2-184.94;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu đen;

+ 01 (một) căn cước công dân số 070193001131 mang tên Nguyễn Thị Tuyết H;

+ 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Tuyết H.

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Agribank số 9704050157928853; NGUYEN THI TUYET HUONG;

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank số 4221510384175496; NGUYEN THI T HUONG;

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704155228399921; NGUYEN T T HUONG;

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank số 9704038264654468, PHAN THI CHIEN;

+ 01 (một) thẻ bảo hành đồng hồ số 809076888;

+ 01 (một) thỏi son, màu đồng loại G9 SKIN;

+ 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, có chữ “YAMAHA; MINH HỒNG PHÁT” màu trắng, mũ có dây đeo màu đen;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO loại Reno 6Z 5G, màu đen;

+ 01 (một) túi xách dạng da, màu xám có hoa văn. Mặt ngoài có ký hiệu dạng chữ “GG” màu vàng, túi có 03 ngăn, có khóa kéo màu vàng;

+ 01 (một) ví dạng da, màu xám, có hoa văn, có nút bấm bằng kim loại màu vàng, trên nút bấm có chữ “lovely”;

+ 02 (hai) thỏi son môi hiệu “La Beauté”, dạng hình trụ vuông, màu đen, kích thước (2 x 2 x 7,5) cm;

+ 01 (một) khóa xe mô tô hiệu Honda, loại smart key;

+01 (một) chùm chìa khóa gồm 04 chìa bằng kim loại màu trắng;

+ 01 (một) bảng tên mang tên “NGUYỄN THỊ TUYẾT H”.

+ 01 (một) ví da màu đen hiệu “TBOST”;

+ Số tiền 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng).

Ngày 05/12/2022, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị Tuyết H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu đen; 01 (một) căn cước công dân số 070193001131 mang tên Nguyễn Thị Tuyết H; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Tuyết H; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Agribank số 9704050157928853; NGUYEN THI TUYET HUONG; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank số 4221510384175496; NGUYEN THI T HUONG; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704155228399921; NGUYEN T T HUONG; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Sacombank số 9704038264654468, PHAN THI CHIEN; 01 (một) thẻ bảo hành đồng hồ số 809076888; 01 (một) thỏi son, màu đồng loại G9 SKIN; 01 (một) túi xách dạng da, màu xám có hoa văn. Mặt ngoài có ký hiệu dạng chữ “GG” màu vàng, túi có 03 ngăn, có khóa kéo màu vàng; 01 (một) ví dạng da, màu xám, có hoa văn, có nút bấm bằng kim loại màu vàng, trên nút bấm có chữ “lovely”; 02 (hai) thỏi son môi hiệu “La Beauté”, dạng hình trụ vuông, màu đen, kích thước (2 x 2 x 7,5) cm; 01 (một) khóa xe mô tô hiệu Honda, loại smart key; 01 (một) chùm chìa khóa gồm 04 chìa bằng kim loại màu trắng; 01 (một) bảng tên mang tên “NGUYỄN THỊ TUYẾT H”.

Ngày 13/12/2022, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lâm Thị L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO loại Reno 6Z 5G, màu đen.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết H số tiền 5.000.000 đồng và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Ngọc H về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội "Cướp giật tài sản".

- Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất, để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình, làm người có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 10/CTr-VKS ngày 11 tháng 01 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án, đồng thời phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng cứ được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 19/5/2022, do muốn có tiền tiêu xài bị cáo H đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 93P2-184.94 công khai giật 01 (một) túi xách dạng da, màu xám có hoa văn của Nguyễn Thị Tuyết H bên trong có: 01 (một) ví dạng da, màu xám có hoa văn, có nút bấm bằng kim loại màu vàng, trên nút bấm có chữ “lovely”; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu đen; 01 (một) ốp lưng điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy A51 bằng nhựa màu tím đen trắng; 01 (một) khóa xe mô tô hiệu Honda, loại Smart key; 02 (hai) thỏi son môi hiệu “La Beauté”, dạng hình trụ vuông, màu đen, kích thước (2 x 2 x 7,5) cm; 01 (một) thỏi son, màu đồng loại G9 SKIN và số tiền 6.200.000 đồng tại ấp Thái D, xã Tân T, Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 9.232.000 đồng (Chín triệu hai trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Hành vi mà bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc dùng xe mô tô là phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra bị cáo có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân Hện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội "Cướp giật tài sản" với tình tiết định khung là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất của hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Bình Phước, để lại hậu quả xấu về mặt xã hội.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Bị không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường cho phía người bị hại, người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bố bị cáo là bộ đội phục viên hiện bị di chứng chiến tranh, còn mảnh kim khí sọ não sức khỏe yếu.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản cùng số tiền khắc phục hậu quả và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) xe mô tô yamaha loại Exciter biển kiểm soát 93P2 – 184.94 là tài sản của chị Lâm Thị L cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại, chị L không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chị L và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô kèm theo.

- Đối với số tiền 7.300.000 đồng trong đó có 6.200.000 đồng của bị hại Hường nên cần trả lại cho chị Hường và 1.100.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Lâm Ngọc H là tài sản riêng của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 ví da màu đen hiệu “TBOST”; 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ “YAMAHA; MINH HỒNG PHÁT” màu trắng, mũ có dây đeo màu đen không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

Đối với các tài sản sau khi cướp giật được Lâm Ngọc H để tại nhà Lâm Thị L nhưng Lý không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lâm Thị L cho Lâm Ngọc H mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 93P2-184.94 nhưng Lý không biết H sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội "Cướp giật tài sản".

2. - Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38; 50; Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H 05 (Năm) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 20/5/2022.

3. Vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho chị Lâm Thị L 01 (một) xe mô tô yamaha loại Exciter biển kiểm soát 93P2 – 184.94 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô kèm theo.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết H số tiền 6.200.000 đồng

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.100.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân mang tên Lâm Ngọc H.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen hiệu “TBOST”; 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ “YAMAHA; MINH HỒNG PHÁT” màu trắng, mũ có dây đeo màu đen.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương./.

Cỡ chữ