- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chánh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] ăn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 09-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Thẩm phán: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Nam
2. Ông Phạm Văn Hễ
3. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh
- Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
962/2022/HSST ngày 15/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
6308/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
N
n Văn C; Sinh ngày: 17/4/1968, tại Phú Yên H khẩu thư ng tr :
Khu phố Đ, thị trấn C, huyện S, tỉnh P; h ở: Phòng trọ số 7, nhà số 86 đư ng L,
phư ng T, Quận A (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh; Trình đ học
vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Bán vé số iới t nh: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c:
Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và à Hồ Thị T; Có vợ:
Nguyễn Thị Thúy H (là bị hại trong vụ án) sinh năm: 1971 và 04 ngư i con, lớn
nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2005: hưa có; Tiền sự: Không; Tiền án:
Không; Bị t tạm gi , tạm giam từ ngày: 17/11/2020 - Có mặt.
Ngư i bào ch a cho bị cáo Nguyễn Văn C:
Ông Nguyễn Văn Tài, là Luật sư thu c Văn phòng luật sư Mai Trung T n,
thu c Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Thúy H; Sinh năm: 1971; Trú tại: H khẩu thư ng tr : Khu
phố Đ, thị trấn C, huyện S, tỉnh P h ở: Phòng trọ số 7, nhà số 86 đư ng L,
phư ng T, Quận A (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh – V ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung
vụ án được tóm t t như sau:
Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thúy H là vợ chồng cùng sống chung tại
Phòng trọ số 7, địa chỉ số 86 đư ng L, phư ng T, Quận A và làm nghề bán vé số dạo. Khoảng 16 gi 30 phút ngày 15/11/2020, C đi mua giấy dò vé số về đến phòng trọ, thì nhìn thấy bà H đang nằm ngủ trên nệm dưới nền nhà. C lấy cây kéo bằng kim loại, mũi kéo nhọn, dài 17cm để trên bàn, rồi ngồi cách nơi à H nằm khoảng 80cm c t giấy dò và vé số cũ kẹp vào vé số mới để đi án. C khai do bực tức việc bà H đi sinh nhật bạn về rồi ngủ không dậy nên C chửi bà H, dẫn đến cả hai cãi vã. C nói với bà H “coi chừng tôi đập chết à”, à H thách thức, thì C liền cầm cây kéo đâm 01 nhát vào góc hàm trái của bà H, sau đó hai ên giằng co. C dùng tay trái choàng ôm cổ bà H vào sát ngư i, tay phải cầm kéo đâm nhiều nhát vào trán, thái dương, cổ, lưng, ả vai trái, hông trái của bà H. Hai bên tiếp tục giằng co, làm bà H ngã ngửa xuống tấm nệm, C tiếp tục cầm kéo đâm vào ụng, ngực, đùi, hông trái, tay của bà H. L c này, có ông Bùi Văn T là chủ nhà trọ nghe tiếng bà H kêu cứu nên chạy đến và nhìn thấy bà H bị thương tích ngư i dính máu, thì C nói với ông T là C đã dùng kéo đâm bà H. Sau đó, ông T gọi điện thoại trình báo Công an phư ng T, Quận 9 đến thu gi cây kéo và đưa bà H đi cấp cứu tại Bệnh viện Quận 9.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 1146/TgT.20 ngày
09/12/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương t ch của bà Nguyễn Thị Thúy H như sau:
+ Vết thương vùng thái dương trái gây thủng đứt da, vỡ sọ thái dương k ch
thước nhỏ kèm mảnh r i đã được điều trị, hiện còn m t vết k ch thước 1x0,1cm có tỉ lệ 13%, vết thương trên do vật s c, vật s c nhọn gây ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng của đương sự.
+ Vết thương vùng lưng gi a phải gần c t sống gây thủng đứt da, gãy
xương sư n 10, tràn khí màng phổi đã được điều trị đặt ống dẫn lưu, hiện còn vết k ch thước 1,9x0,1cm, có tỉ lệ 10%, vết thương trên do vật s c, vật s c nhọn gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng của đương sự.
+ Đa vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn: M t vết thương góc
hàm trái kích thước 1,5x0,1cm, có tỉl ệ 03%; M t vết thương vùng chẩm phải kích thước 3,5x0,1cm, có tỉ lệ 01%; Hai vết vùng cổ gáy kích thước 0,5x0,1cm m i vết; M t vết vùng cổ trái kích thước 1x0,1cm, có tỉ lệ 02% m i vết; Bảy vết vùng mặt trước trên vai trái kích thước từ 1x0,1cm đến 3x0,lcm; Ba vết vùng mặt sau vai trái kích thước từ 1x0,1cm đến 1,8x0,1cm; M t vết vùng lưng trên phải kích thước 1x0,1cm; M t vết vùng lưng gi a phải kích thước 1x1,1cm; Hai vết vùng lưng gi a trái kích thước 1,2x0,1cm m i vết; Sáu vết vùng ngực phải kích thước từ 0,5x0,1cm đến 3x0,1cm; M t vết vùng ngực trái kích thước 1x0,1cm; M t vết vùng bụng trái kích thước 1x0,1cm; M t vết vùng khuỷu phải kích thước 1,8x0,1cm; M t vết vùng hông đùi trái kích thước 1,2x0,1cm; M t vết vùng đùi trái kích thước 1x0,1cm. Có tỉ lệ 01% m i vết. Các vết thương trên do vật s c, vật
s c nhọn hoặc vật có cạnh s c tác đ ng gây ra, không gây nguy hiểm đến tính
mạng của đương sự.
C ng lùi các tỉ lệ thương tật trên theo Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ
44,95%, làm tròn số sẽ là 45%. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên
hiện tại là 45%. Kết luận khác: Cây kéo như bản ảnh gây ra được tất cả các vết
thương trên. Theo Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.390-2020/ADN
ngày 14/12/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết
luận AND của Nguyễn Thị Thúy H có hiện diện trong mẫu dấu vết màu nâu đỏ
trên lưỡi của cây kéo.
Ngày 28/10/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đưa vụ án ra xét xử
và tuyên phạt Nguyễn Văn C 06 năm 06 tháng tù về t i “ ố ý gây thương t ch”
(Bản án số 402/2021/HSST).
Ngày 23/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban
hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 44/QĐ-VKS khàng nghị toàn b bản
án sơ thẩm của tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, theo hướng hủy toàn b bản
án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
Ngày 20/01/2022, Tòa án nhân dân Thành Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét
xử theo trình tự phúc thẩm, tuyên hủy toàn b bản án hình sự sơ thẩm số
402/2021/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (Bản án số
28/2022/HSPT) do xét thấy hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn Văn C có dấu
hiệu của m t t i phạm khác nặng hơn t i danh cấp sơ thẩm đã xét xử.
Ngày 28/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức ra Quyết
định số 53/QĐ-VKSTĐ về việc trả hồ sơ vụ án cho ơ quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố Thủ Đức để điều tra lại.
Ngày 08/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức ra Quyết
định số 02/QĐ-VKSTĐ về việc chuyển hồ sơ vụ án trên đến ơ quan Cảnh sát
điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i
như đã nên trên.
* Vật chứng thu gi : 01 cây kéo dài 17cm, cán màu đỏ, lưỡi bằng kim loại
màu sáng, mũi kéo nhọn.
Về dân sự: bà Nguyễn Thị Thúy H đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu
Nguyễn Văn C bồi thư ng.
Tại bản Cáo trạng số 543/CT-VKS-P2 ngày 28/10/2022, của Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ h Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về t i “ iết
ngư i” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ
sung năm 2017).
* Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu l i luận t i, gi nguyên quan điểm như n i
dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân t ch đánh giá tính chất, mức đ hành
vi phạm t i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị H i đồng xét xử: ăn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 đến 13 năm tù về t i “ iết ngư i”.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất các biện pháp xử lý vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
- Bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm t i đ ng như n i dung
vụ án được tóm t t nêu trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. L i nói sau cùng ị cáo xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Ngư i bào ch a cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Văn Tài, trình bày quan
điểm bào ch a như sau: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về t i danh “Giết ngư i” và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Tuy nhiên đề nghị H i đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Mặc dù hành vi của bị cáo là giết ngư i nhưng Viện kiểm sát chưa xem xét ị cáo phạm t i thu c trư ng hợp chưa đạt, nên đề nghị mức hình phạt là quá nghiêm kh c đối với bị cáo. Về các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm t i, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mục đ ch ị cáo đâm ị hại để cho bị hại sợ chứ không có ý muốn giết chết bị hại và thực tế bị hại không chết, sau khi đâm ị hại bị cáo đã cùng nh ng ngư i xung quanh đưa ị hại đi cấp cứu. Bị cáo có thái đ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; được ị hại làm đơn ãi nại. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 54 Điều 15 B luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về chăm lo cho gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Về t i danh, khung hình
phạt và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 B luật hình sự mà Luật sư nêu ra là thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên không có ý kiến gì khác. Không đồng ý áp dụng Điều 54 B luật hình sự cho bị cáo C được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vì không có đủ cơ sở, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ gi a bị cáo và bị hại nhưng ị cáo thực hiện hành vi phạm t i m t cách hết sức tàn bạo dùng hung khí nguy hiểm đâm liên tục nhiều nhát vào các vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại. Bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo, nên không chấp nhận áp dụng Điều 15 B luật hình sự đối với bị cáo. Sau khi tranh luận đối đáp các ên vẫn gi nguyên quan điểm như đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát
viên, khi thực hiện hành vi cũng như an hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại B luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và nh ng ngư i tham gia tố tụng khác,
không ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của ơ quan
tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp
pháp.
Xét l i khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với
l i khai của bị hại, ngư i làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác
được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định:
Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thúy H là vợ chồng sống chung tại
Phòng trọ số 7, địa chỉ số 86 đư ng L, phư ng T. Khoảng 16 gi 30 phút ngày
15/11/2020, C bực tức việc bà H đi sinh nhật bạn về rồi ngủ không dậy, nên chửi
bà H dẫn đến cả hai cãi vã. C đe dọa “coi chừng tôi đập chết à” thì bà H thách
thức, nên C lấy cây kéo bằng kim loại, mũi kéo nhọn, dài 17cm để trên bàn gần
nơi bà H đang nằm, cầm trên tay phải đâm 01 nhát vào góc hàm trái của bà H, hai
bên giằng co qua lại. C dùng tay trái choàng ôm cổ bà H vào sát ngư i, tay phải
cầm kéo đâm nhiều nhát vào trán, thái dương, cổ, lưng, ả vai trái, hông trái của
bà H. Hai bên tiếp tục giằng co làm bà H ngã ngửa xuống tấm nệm, C cầm kéo
đâm vào ụng, ngực, đùi, hông trái, tay của bà H.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 1146/TgT.20 ngày
09/12/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận
thương t ch của bà Nguyễn Thị Thúy H như sau:
Vết thương vùng lưng gi a phải gần c t sống gây thủng đứt da, gãy xương
sư n 10, tràn khí màng phổi đã được điều trị đặt ống dẫn lưu, hiện còn vết kích
thước 1,9x0,1cm, có tỉ lệ 10%, gây nguy hiểm đến tính mạng của đương sự. Vết
thương vùng thái dương trái gây thủng đứt da, vỡ sọ thái dương k ch thước nhỏ
kèm mảnh r i đã được điều trị, hiện còn m t vết k ch thước 1x0,1cm có tỉ lệ
13%; Đa vết thương phần mềm tại vùng đầu, mặt, cổ, ngực, vai, lưng, hông, tay
không gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Các vết thương trên do vật s c,
vật s c nhọn hoặc vật có cạnh s c gây ra, có Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương
tích gây nên hiện tại là 45%.
Xét thấy ị cáo và ị hại là vợ chồng sống chung cùng nhau nhưng chỉ vì
mâu thuẫn nhỏ phát sinh trong đ i sống hàng ngày dẫn đến vợ chồng cãi nhau
qua lại, bị cáo đã thiếu kiềm chế dùng cây kéo cây kéo bằng kim loại dài
khoảng 17 cm, mũi kéo nhọn, là m t loại hung khí nguy hiểm đâm liên tục
nhiều nhát vào góc hàm trái, trán, thái dương, cổ, lưng, ả vai trái, hông trái,
bụng, ngực, đùi, hông trái, tay là nh ng vùng trọng yếu trên cơ thể, gây ra
thương t ch cho bị hại có tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 45%. Hành vi của bị
cáo có tính chất côn đồ, nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm
t i “Giết ngư i” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 B luật hình sự như
bản Cáo trạng đã truy tố.
Hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn Văn C là đặc biệt nghiêm trọng, nguy
hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công
dân, gây mất trật tự an toàn xã h i. Bản thân bị cáo nhận thức được tính mạng của con ngư i được pháp luật bảo vệ, nhưng do bản t nh hung hăng côn đồ và ý thức coi thư ng pháp luật, bị cáo đã dùng hung kh nguy hiểm đâm nhiều nhát với cư ng đ tác đ ng mạnh vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại, gây nguy hiểm đến tính mạng, bị hại không chết là do được cấp cứu kịp th i, thể hiện t nh hung hăng côn đồ cao đ của ị cáo, là mối nguy hiểm rất lớn cho xã h i, nên cần phải có mức án nghiêm kh c mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã h i.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm của Luật sư bào ch a
cho bị cáo tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận thấy về t i danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ như Luật sư và Đại diện Viện kiểm sát trình bày, cơ ản là phù hợp với nhau và có căn cứ, nên chấp nhận, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Văn C theo quy định tại các điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự. Không chấp nhận đề nghị của Luật sư về việc áp dụng Điều 54 B luật hình sự cho bị cáo C vì không có đủ cơ sở.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn C đã thực hiện hết các hành vi cho là cần
thiết đối với bị hại nhưng hậu quả chết ngư i không xảy ra, thu c trư ng hợp phạm t i chưa đạt, nên cần áp dụng Điều 15, Điều 57 B luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu bị cáo bồi
thư ng, nên H i đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng của vụ án là 01 cây kéo dài 17cm, cán màu đỏ, lưỡi bằng kim
loại màu sáng, mũi kéo nhọn, là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Bị cáo phải n p án phí hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ
thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại, có quyền kháng cáo trong th i hạn
luật định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] ăn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều
51 Điều 15 Điều 57 B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mư i hai) năm tù về t i “Giết ngư i”.
Th i hạn tù tính từ ngày bị b t tạm gi , tạm giam 17/11/2020.
[2] Về xử lý vật chứng:
ăn cứ vào Điều 47 B luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm
2017) Điều 106 B luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo dài 17cm, cán màu đỏ, lưỡi bằng kim loại
màu sáng, mũi kéo nhọn.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/060 ngày 24/11/2022
của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
[3] Về án phí:
ăn cứ khoản 2 Điều 136 của B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thư ng vụ Quốc h i;
Bu c bị cáo Nguyễn Văn C phải n p 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
ăn cứ khoản 1 Điều 333 B luật Tố tụng hình sự
Bị cáo Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Bị hại Nguyễn Thị Thúy H v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (1) - Sở tư pháp (1) - Trại giam; (1) - Luật sư; (1) - Bị hại; (1) - Bị cáo; (1) - THA HS; (2) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (1) - UBND nơi ị cáo cư tr (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (20) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |