- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Thúy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 07/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lý Xuyên
2. Bà Nguyễn Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Thị T- Sinh năm: 1972 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Ô 4 Lô 74 Đất Lành, phường V, thành phố N, tỉnh K. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; chồng: Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1975; Con: 07 con, lớn nhất: sinh năm: 1993, nhỏ nhất: sinh năm: 2006.
Tiền án:
- Ngày 27/10/2009, bị Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
- Ngày 09/3/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với 9 tháng tù tại bản án số 282/2009/HSST ngày 27/10/2009. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016. Chưa chấp hành xong án phí.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 15/6/1993, bị Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/1993.
- Ngày 27/11/2017, bị Toà án nhân dân thành phố N xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2022 đến ngày 06/11/2022, tạm giam từ ngày 07/11/2022 đến nay (Có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Bà Lê Thị Mai H, sinh năm: 1958
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm: 1974
Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1968
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt)
3. Bà Trần Thị L, sinh năm: 1963
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt)
4. Bà Đặng Thị T, sinh năm: 1976
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 03/11/2022, Huỳnh Thị T đi xe buýt từ thành phố Nha Trang đến khu vực chợ Cam Phúc Bắc thuộc tổ dân phố Hòa Do 3, phường Cam Phúc Bắc, thành phố Cam Ranh. Đến khoảng 07 giờ 20 phút cùng ngày 03/11/2022, Thúy xuống xe đi bộ vào bên trong chợ. Tại đây, Thúy thấy bà Lê Thị Mai H đang đứng mua rau tại sạp hàng của bà Đặng Thị T, bên trong túi áo khoác bên phải của bà Hạnh có 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03 nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Lúc này, tại sạp đối diện với sạp bà Tiên có bà Nguyễn Thị Bích L và bà Nguyễn Thị Kim T nghi ngờ Thúy sẽ móc túi nên theo dõi. Sau đó, Thúy dùng tay lấy trộm điện thoại di động của bà Hạnh đang để bên trong túi áo khoác thì bị bà Lâm và bà Trưởng phát hiện. Bà Lâm đi đến giữ Thúy lại và giằng co nên điện thoại di động rơi xuống đất. Bà Lâm và một số người khác giữ Thúy lại và trình báo Công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 136 ngày 04/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03, màu đỏ, trị giá 2.966.500 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSCR-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Tvề tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thị Tvà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ttừ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Mai H không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.
Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A03 đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Thị Mai H nên không xét.
Bị cáo Huỳnh Thị Tthừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Bị hại Lê Thị Mai H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Thị Kim T, Trần Thị L, Đặng Thị T vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
Về nội dung vụ án:
Trong quá trình điều tra, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Tđã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; Người làm chứng, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 03/11/2022, Huỳnh Thị Tlợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bà Lê Thị Mai H, lén lút dùng tay lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A03, màu đỏ trong túi áo của bà Lê Thị Mai H trị giá: 2.966.500 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 10/CT-VKSCR-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Bị cáo Huỳnh Thị T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà Lê Thị Mai H, gây mất trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư. Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo không lo làm ăn và không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo xem thường pháp luật và ý thức cải tạo kém. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Mai H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xét.
Về xử lý vật chứng:
01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A03 đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Thị Mai H nên không xét.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2022.
3. Về án phí:
Bị cáo Huỳnh Thị Tphải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Cam Ranh; - Công an thành phố Cam Ranh (02 bản); - Chi cục THADS thành phố Cam Ranh; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Vân |