vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 17/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố bị cáo Lục Văn T phạm tội “Giết người”.

2- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-01-2023. 3- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo Lục Văn T phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày 17 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Hải

Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Lợi;

Bà Nguyễn Thị Vân

Bà Lê Vân Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm đặt tại phòng xử án số 01- Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái và điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Lục Văn T, sinh ngày 17-10-1995, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Tr, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lục Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị A, sinh năm 1950; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-01-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Trần N thuộc Văn phòng Luật sư H, Đoàn Luật sư tỉnh Yên Bái.

Địa chỉ: Số 286, đường E, phường I, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người bị hại: Anh Lục Văn X (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị A, sinh năm 1950 (Là mẹ của bị hại). Vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bà A đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lục Văn H, sinh năm 1984. Cùng trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Tr, tỉnh Yên Bái. (Theo giấy ủy quyền lập ngày 10/02/2023). Có mặt.

- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Hà Việt Khương - Kiểm sát viên; có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác tại đầu cầu thành phần: Cán bộ, chiến sỹ Trại Tạm giam Công an tỉnh Yên Bái; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lục Văn X và bị cáo Lục Văn T là hai anh em ruột, cả hai chưa lập gia đình riêng và vẫn sống cùng với mẹ đẻ là bà Đặng Thị A ở Thôn L, xã Đ, huyện Tr, tỉnh Yên Bái. Tối ngày 21-01-2023, anh X uống rượu say đã ném mâm, bát từ trên sàn nhà xuống sân nên trưa ngày 22-01-2023 Lục Văn T bảo anh X dọn sạch mâm bát bị vỡ đi nhưng anh X không dọn mà còn cãi nhau với bà A. Sau đó, anh X đập vỡ thêm bộ ấm chén uống nước của gia đình rồi lên giường đắp chăn đi ngủ. Do bức tức về việc trên của anh X nên Lục Văn T đã đi mua 02 lít xăng đựng trong hai chai nhựa, mỗi chai 01 lít, mang về để ở khu vực bếp. Tiếp đó, T bảo bà A bế cháu Ng (cháu ngoại của bà A) đi chơi. Khi bà A bế cháu Ng xuống đường, T cầm một chai xăng lên vặn nắp chai đổ xăng lên chiếc chăn anh X đang đắp rồi vặn nắp lại và ném vỏ chai xuống sân. T gọi anh X dậy, yêu cầu anh X dọn dẹp chỗ bát, đĩa vỡ nhưng anh X không nói gì mà đi ra ngồi ở khu vực để ấm, cách chỗ anh X ngủ khoảng 01 m và đập tay xuống sàn nhà 3-4 lần. T bức tức nên đã lấy một chiếc bật lửa ga ở gần chỗ anh X đang ngồi và chạy xuống bếp lấy chai xăng còn lại, vặn nắp, đổ hết xăng trong chai vào một chiếc gáo nhựa màu xanh rồi vứt vỏ chai tại bếp. T cầm gáo đựng xăng bằng tay phải, tay trái cầm bật lửa ga đi đến gần anh X và hỏi: “Anh có dọn không ?”. Anh X tiếp tục đập tay xuống sàn nói “… thích thì mày gọi cả thằng kia về” (Ý là gọi cả Lục Văn Ch là em trai anh X và là anh trai của T về). T cầm gáo đựng xăng bằng tay phải hất xăng vào người anh X. Anh X đứng dậy dùng tay đấm T nhưng không trúng. Lúc này anh X và T đứng sát nhau. T bật lửa rồi châm vào cánh tay phải của anh X làm người anh X bùng cháy. Anh X kêu: “Cháy ! cháy ! …” đồng thời chạy về phìa góc nhà lăn vào chiếc chăn để dập lửa nhưng chăn đã thấm xăng do T đổ trước đó nên lửa càng cháy to hơn. Anh X chạy về phía sạp nước lấy nước dập lửa, còn T nhảy xuống đất đi ra góc sân đứng. Anh X được anh, em, hàng xóm đến giúp dập lửa và đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái cấp cứu nhưng do bị bỏng quá nặng nên đến ngày 23-01-2023 thì tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 88/KL-KTHS ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tóc, lông mi, lông mày bị cháy xém.

- Da toàn thân phồng rộp, bong trợt, lớp thượng bì, nhiều vị trí để lại nền da màu hồng.

- Tổ chức dưới da, cơ vùng cổ thuần nhất. Sụn giáp, sụn nhẫn, sụn khí quản, xương móng không tổn thương; niêm mạc khí quản sung huyết, bong trợt, bám dính nhiều dị vật dạng muội màu đen, lẫn dịch nhày màu hồng.

2. Nguyên nhân chết: Sốc bỏng.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-P2 ngày 24-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Lục Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lục Văn T phạm tội “Giết người”

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn T từ 19 năm tù đến 20 năm tù.

- Áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gáo nhựa, 02 chai nhựa và 01 bật lửa ga.

+ Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoai di động.

- Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện hợp pháp của người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đã tiến hành tranh tụng có nội dung được tóm tắt như sau: Về cơ bản, người bào chữa nhất trí với tội danh, điều luật cần áp dụng và các đề xuất của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội; tại cơ quan điều tra bị cáo đã “Thành khẩn khai báo”, sau khi phạm tội đã ra “Đầu thú” và tự nguyện nhờ người thân dùng tiền của cá nhân tổ chức mai táng cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo ở mức án từ 16 năm đến 17 năm tù.

Bị cáo T nhất trí với bản Luận cứ của người bào chữa, không bổ sung gì thêm. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt với mức thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.

Anh Lục Văn H khai: Sau khi anh X chết, anh C đã dùng số tiền 8.000.000 đồng mà bị cáo đã gửi trước đó để mai táng cho anh X. Anh C cùng bà A và các thành viên trong gia đình đã thống nhất không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Yên Bái, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, phù hợp với Kết luận giám định pháp y về tử thi và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận:

Do bực tức về việc anh Lục Văn X không chịu dọn số mâm, bát đã làm vỡ từ tối hôm trước, lại còn có những lời lẽ thách thức nên trưa ngày 22-01-2023 tại nơi ở của mình ở thôn L, xã Đ, huyện Tr, tỉnh Yên Bái, Lục Văn T đã có hành vi hất xăng vào người của anh X rồi bật lửa đốt khiến anh X bị bỏng nặng và tử vong. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng xăng để thiêu đốt nạn nhân có thể dẫn đến tử vong, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trái phép quyền được sống của người khác nên đã có đủ căn cứ khẳng định bị cáo Lục Văn T đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương nên cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét việc trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội mang tính bột phát; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, đã dùng tiền của bản thân để mai táng cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi liên quan đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc gáo nhựa, 02 chai nhựa và 01 bật lửa ga do đó là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoai di động do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về án phí: Do bị cáo bị buộc tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và những người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố bị cáo Lục Văn T phạm tội “Giết người”.

2- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-01-2023.

3- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc gáo nhựa màu xanh than; 02 chai nhựa (trong đó có 01 chai nhựa không có nắp và 01 chai nhựa có nắp đậy); 01 chiếc bật lửa gas, màu đỏ trắng, trên thân bật lửa có dán mảnh giấy hình chữ nhật màu trắng và có chữ, số, hoa văn, hoạ tiết.

- Trả lại cho bị cáo Lục Văn T 01 điện thoai di động, kiểu máy Redmi 9A, màu xanh, đã cũ, IMEI khe cắm thẻ sim 1: 868184051871648, IMEI khe cắm thẻ sim 2: 868184054871655.

(Toàn bộ số vật chứng và tài sản thu giữ nêu trên có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan C sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Yên Bái).

4- Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lục Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5 - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi liên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ