- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thanh H phạm tội giết người, cướp tài sản - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thanh H phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 93 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 30 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Thẩm phán tHnh viên:
Ông Đinh Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;
Bà Phan Thị Gái;
Ông Nguyễn Ngọc Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức THnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Bị cáo: Lương Thanh H; sinh năm 1975 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Khu phố 2, phường H, thị xã PM, tỉnh B; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; con ông Lương Sỏ và bà P (đã chết); Vợ: Không có; hiện đang sinh sống với chị với Phạm Thị Thu H, sinh năm 1979, cư trú tại: tổ 16, khu phố 5, phường Đông Hưng Th, quận 12, tHnh phố H; con: Phạm Ngọc Phương N, sinh năm 2014; gia đình có 10 người con, bị cáo là con thứ 4.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/6/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 30 tháng tù, về tội “Hiếp dâm”, ngày 31/8/2002 được đặc xá.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/8/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị.
- Những người tham gia tố tụng:
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Mai Thị X , sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Q ; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Thanh H: Bà Trần Thị L – Công ty Luật Văn Hi, Đoàn LS QT; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Thanh P, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố 2, phường H, thị xã PM, tỉnh B; có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Phan Thị Lê, sinh năm 1950; trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Q; có mặt.
- Ông Lê Văn Hùng, sinh năm 1974; trú tại: Khóm 2, thị trấn K K, xã Đa, huyện Đ, tỉnh QT; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04/8/2007, Lương Thanh H sau khi đi nhậu xong thì về nH dì ruột là bà Phan Thị L để ngủ. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, H thức dậy và đi bộ đến quán tạp hóa của chị Đinh Thị L để mua thuốc lá. Khi đến, thấy quán đã đóng cửa, H đi đến cửa chính gọi nhưng không thấy ai trả lời. Sau đó, H đi đến của phụ phía sau vừa gõ cửa và vừa gọi chủ quán mở cửa để mua thuốc. Khi chị L mở của, H nói “Bán cho tôi gói thuốc”, chị L nói lại “Ông bị điên à, nửa đêm nửa hôm rồi mua bán cái chi nữa”, nhưng H vẫn tiếp tục năn nỉ và chị L vẫn đồng ý bán thuốc cho H.
Khi chị L đưa cho H 01 gói thuốc, H lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng đưa cho chị L thì chị L có lời nói khiếm nhã đối với H nên H đã dùng tay phải đánh một cái trúng vào má bên phải của chị L . Vì bị đánh nên chị L cầm một thanh gỗ (dài khoảng 80 cm, hình vông, cạnh sắc rộng 04 cm) có sẵn ở trong nH đánh một phát trúng nhẹ vào đầu H. H giật lấy thanh gỗ, rồi cả hai gằng co với nhau từ vị trí gian nH bếp lên đến gian nH chính, H giật được thanh gỗ và đánh hai phát từ trên xuống dưới và từ trái qua phải vào vùng đầu làm cho chị L bị thương tích, chảy máu và ngã xuống đất bất tỉnh.
Thấy chị L nằm bất động, H dùng tay đưa vào mũi của chị L kiểm tra thì thấy chị L không còn thở nữa. Nghĩ chị L đã chết, nên H bồng chị L bỏ vào bể nước gần cửa phụ phía sau nH. Khi bỏ chị L vào bể nước, tay của chị L móc vào túi ngực áo khoác của H. Khi H lấy tay chị L ra thì thấy ngón tay có đeo một nhẫn vàng, H rút chiếc nhẫn từ tay của chị L ra bỏ vào túi quần của mình và bỏ chị L vào bể chứa nước rồi đi về nH bà Lê ngủ.
Đến khoảng 05 giờ ngày 05/8/2007, bà Lê được người thân thông báo việc chị L bị đánh chết nên mở cửa nH ra thì thấy H đang nằm ngủ trên bàn Bida trước cửa nH. Thấy vậy, bà Lê gọi H dậy, nói với H về việc L bị đánh chết và nhờ H chở ra nH của chị L để xem sự việc. Nghe vậy, H đi ra bể nước của thôn Tà Lg đối diện nH bà Lê để vệ sinh cá nhân thì thấy trên áo khoác Jean mình đang mặc có dính máu của chị L. Do sợ bị phát hiện, H cởi và vứt chiếc áo khoác Jean của mình xuống ao nước ở gần bể nước rồi đi vào nH lấy xe mô tô biển số 81F6- 5802 (xe của anh ruột là Lương Thanh Phước, sinh năm 1970 cho mượn) chở bà Lê đi đến gần nH chị L. Thấy có nhiều người dân tập trung xem việc chị L bị đánh chết trong bể nước, bà Lê cũng vào gần trong nH của chị L để xem. H đứng xem một lúc thì lo sợ bị mọi người phát hiện, nên đi về nH bà Lê lấy quần áo rồi điều khiển xe mô tô 81F6-5802 đi ra hướng thị trấn Krông KLg, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Trên đường đi, H bán cho anh Lê Văn H (Sinh năm 1974, trú ở tại khóm 2, thị trấn Krông KLg, huyện Đ ) chiếc nhẫn vàng đã lấy được từ tay chị L được số tiền 600.000 đồng. Lúc này, H mới biết chiếc nhẫn vàng là loại vàng 24K, có trọng lượng 05 (năm) phân.
Chiều ngày 06/8/2007, H để xe mô tô 81F6-5802 tại nH cô ruột của mình là bà Lương Thị NHn, sau đó đi đến thôn T, xã Tân T , huyện Lệ Th , tỉnh Quảng B để chơi. Đến tối cùng ngày, vì thấy lo sợ bị phát hiện và bị bắt về Hnh vi của mình, nên H đã bỏ trốn vào khu vực tHnh phố Hồ Chí Minh, đến ngày ngày 05/8/2022 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.
Tại Bản Giám định pháp y tử thi số 143/GĐPY ngày 06/8/2007 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Nạn nhân Đinh Thị L chết do ngạt nước/choáng do chấn thương sọ não.
Tại Bản thông báo kết quả giám định số 90 KLGĐ/PC21 ngày 28/8/2007 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Vết màu nâu dính trên lại áo ống tay trái của chiếc áo Jean gửi đến giám định có thể là máu (không xác định được loài máu vì do dấu vết đã bị ẩm ướt lâu có khả năng đã bị phân hủy biến chất).
Tại Bản kết luận giám định số 1897/C21(P7) ngày 08/10/2007 của Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an Kết luận: Dấu vết ghi thu ở trên nền nH và trên vỏ bao thuốc lá AROMA được để trong tủ Hng của nạn nhân Đinh Thị L là máu người. Do chất lượng dấu vết kém, nên không giám định được.
Tại Bản Kết Luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 5199/KLĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá giá tài sản thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị kết luận: Trị giá 01 (một) nhẫn vàng hình tròn, loại vàng 24K, trọng lượng 0,5 phân tại thời điểm 8/2007 là 650.000 đồng
Các vật chứng, tài sản thu giữ: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, 01 (một) áo Rin màu xanh bạc.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục thi Hnh án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2023)
Cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 ngày 13/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lương Thanh H về tội “Giết người” quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 93 và tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm e, n khoản 1 Điều 93 BLHS 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lương Thanh H: 20 năm (Hai mươi năm) tù về tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 1 Điều 133 BLHS 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lương Thanh H từ: 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo Rin màu xanh bạc; tịch thu sung công 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Thanh H: Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội nên người bào chữa không có ý kiến gì. Về tình tiết giảm nhẹ, ngoài các tình tiết Viện kiểm sát đề nghị, người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do Hnh vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS. Như vậy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
. Về tố tụng: Người làm chứng ông Lê Văn H vắng mặt. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 BLTTHS, HĐXX vẫn tiến Hnh xét xử vụ án.
. Xét lời khai nhận Hnh vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Về Hnh vi: Tối ngày 04/8/2007, Lương Thanh H đến quán của chị Đinh Thị L để mua thuốc lá. Trong quá trình mua thuốc, giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát nhau. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, nhưng H đã có Hnh vi dùng gậy gỗ làm hung khí đánh vào đầu chị L hai phát làm chị L bị chấn thương sọ não và bất tỉnh. Ngay sau đó, H chiếm đoạt 01 chiếc nhẫn vàng (loại vàng 24K, trọng lượng 05 phân) trị giá 650.000 đồng của chị L và bỏ chị L vào bể chứa nước làm chị L tử vong. Hnh vi của bị cáo đủ yếu tố cấu tHnh tội “Giết người” quy định điểm e, n khoản 1 Điều 93 và tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị áp dụng định khung tăng nặng của điều luật quy định nên không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị can tHnh khẩn khai báo, tác động cùng gia đình bồi thường cho gia đình bị hại tiền mai táng, tổn thất tinh thần, giá trị 05 phân vàng tổng số là 150 triệu đồng và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; mẹ bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo có nhân thân xấu, Hnh vi của của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng và quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần có bản án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên khi lượng hình cần xem xét áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo đối với tội “Cướp tài sản”.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81F6-5802 là tài sản của anh Lương Thanh P , không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, anh P từ chối nhận lại tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách NH nước 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, sơn màu Xanh, số khung: không kiểm tra được; số máy: Y0901977, biển kiểm soát 81F6 – 8502.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo Rin màu xanh bạc. Áo có 02 (hai) túi trên phía trước ngực áo, vạt áo bên trái có hình người đội mũ màu trắng có chữ DAVID-BECKHAM và chữ ký đằng bên trên bằng màu trắng nằm theo chiều ngang của áo, vạt áo phía bên phải có chữ DAVID-BECKHAM theo chiều áo từ trên xuống. Tay áo bên trái đoạn xẻ cổ tay có dấu đứt chỉ khâu khoảng 06 (sáu) cm, áo đã củ, trên áo có nhiều vết bám bẩn của tạp chất. Dạng áo budong có lai xẻ.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục thi Hnh án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2023)
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
. Vì thời hạn tạm giam vẫn còn trên 45 ngày nên HĐXX không ban Hnh lệnh tạm giam mới đối với bị cáo Lương Thanh H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Thanh H phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm e, n khoản 1 Điều 93 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lương Thanh H: 20 (Hai mươi) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 133 BLHS 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lương Thanh H: 02 (Hai) năm tù.
Áp dụng Điều 55 BLTTHS năm 2015 tổng hợp hình phạt, hình phạt chung mà bị cáo Lương Thanh H phải chịu là: 22 (Hai mươi hai) năm tù.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung công: 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn xanh, số khung: không kiểm tra được, số máy: Y0901977, biển kiểm soát: 81F6-8502, xe không có cánh yếm bên trái và bên phải, phần dè trước bên trái có một vết nứt vỡ dài khoảng 25cm, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra các chi tiết bên trong xe.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Áo rin màu xanh bạc. Áo có 2 (hai) túi trên phía trước ngực áo, vạt áo bên trái có hình người đội mũ màu trắng có chữ DAVID-BECKHAM và bên trên có chữ ký màu trắng nằm theo chiều ngang của áo, vạt áo phía bên phải có chữ DAVID- BECKHAM theo chiều áo từ trên xuống. Tay áo bên trái đoạn xẻ cổ tay có dấu đứt chỉ khâu khoảng 06 (sáu) cm, áo đã cũ, trên áo có nhiều vết bám bẩn của tạp chất. Dạng áo budong có lai xẻ.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục thi Hnh án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2023)
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lương Thanh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo những nội dung liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - STP tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Người TGTT; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |