vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T; Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lâm Hoàng V 05 (năm) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022. Xử phạt: Nguyễn Trung T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T; Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
T PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2023/HS-ST
Ngày: 09/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - T PHỐ HỒ CHÍ MINH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phú

2. Bà Đỗ Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Thư T a án nhân dân quận Tân Bình, T phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, T phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ l số 151/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 đối với:

1. Bị cáo Lâm Hoàng V, giới tính: Nam; sinh năm: 1997; tại: T phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng thư ng trú: Số 176/15 đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 186/9A đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: hông biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; con ông: Lâm Văn H2 và bà: Lê Thị H1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; T sự: Không; T án: Ngày 16/6/2020, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Ngày 03/3/2020, Công an phư ng Phú Thọ H a, quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại phư ng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 28/3/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Nguyễn Trung T; giới tính: Nam; sinh năm: 1991; tại: tỉnh Lâm Đồng; Nơi đăng thư ng trú: Số 168/74 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 38A1 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: V Nam; con ông: Nguyễn Đình K và bà: Nguyễn Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; T sự: Không; T án: Ngày 20/11/2019, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 28/3/2022. Bị cáo có mặt tại phiên t a.

3. Bị cáo Nguyễn Minh N; giới tính: Nam; sinh năm: 1993; tại T phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng thư ng trú: Số 54/11 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 169 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông: vô danh và bà Nguyễn Ngọc Thu A1; Hoàn cảnh gia đình: có vợ, chưa có con; T án: không; T sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/12/2010, T a án nhân dân quận Thủ Đức, T phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Ngày 06/8/2013, T a án nhân dân Quận 11, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 28/3/2022. Bị cáo có mặt tại phiên t a.

4. Bị cáo Lê Thị Ngọc T; giới tính: Nữ; sinh năm: 1990, tại T phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng thư ng trú: Số 151/22B đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị S; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng và 04 ngư i con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014); T sự: Không; T án: Ngày 02/12/2010, T a án nhân dân quận G Vấp, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 12/02/2015, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù; Ngày 18/4/2019, T a án nhân dân quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 28/3/2022. Bị cáo có mặt tại phiên t a.

5. Bị cáo Nguyễn Thị Kim N; giới tính: Nữ; sinh năm 1993, tại: tỉnh Bến Tre; Nơi đăng thư ng trú: Số 332A/13 đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 204 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông Nguyễn Trọng H3 và bà Nguyễn Tuyết T2; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng (chưa đăng

ết hôn) và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020); T án: Không; T sự: Không; Biện pháp nhăn chặn: Ngày 15/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên t a.

Bị hại:

- Chị Phạm Huỳnh L, năm sinh 1994; Nơi đăng thư ng trú; Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3; Nơi ở: Số 116 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

- Chị Trương Thị Yến N, năm sinh 1977; Nơi đăng thư ng trú: Ấp 5, Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3; Nơi ở: Số 116 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

- Chị Lê Tuyết A1, năm sinh 1957; Địa chỉ thư ng trú: Số 373/120 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 69 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

- Chị Trần Thùy T1, năm sinh 1989; Địa chỉ thư ng trú: Số 51 đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số A75/6B/24 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Nguyễn Văn T2, năm sinh 1975; Địa chỉ thư ng trú: Thôn P, xã Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3; Nơi ở: Số 34 đư ng Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

- Chị Bùi Thụy Vân H1, năm sinh 1982; Địa chỉ thư ng trú: Số 299/20 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H; Nơi ở: Số 639/86 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Huỳnh Mai Hồng N1, năm sinh 2002; Địa chỉ thư ng trú: Số 349 đư ng đư ng A, phư ng B, quận C, T phố H. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Nguyễn Văn Q, năm sinh 1990; Địa chỉ thư ng trú: Thôn Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3; Nơi ở: Nhà hông số, xã Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Nguyễn Duy N1; Địa chỉ thư ng trú: Ấp Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3,. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Trần Đức T2, năm sinh 1976; Địa chỉ thư ng trú: Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3; Nơi ở: Số 356 Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

- Chị Nguyễn Thị Đ1, năm sinh 1992; Địa chỉ thư ng trú: Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Võ Xuân T2, năm sinh 1993; Địa chỉ thư ng trú: Thôn 3, Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

- Anh Mai Hoàng A1; Địa chỉ thư ng trú: A79Bis Xã Đ3, huyện T3, tỉnh B3. Vắng mặt tại phiên t a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Hoàng V, Nguyễn Minh N, Nguyễn Trung T, Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Kim N là các đối tượng có T án về tội “Trộm cắp tài sản”, bản thân hông có nghề nghiệp. Các bị cáo đã bàn bạc cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn các quận Tân Bình, Tân Phú và Bình Tân với phương thức thủ đoạn rất manh động. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân đã lập chuyên án đấu tranh triệt phá. Kết quả tại Cơ quan điều tra các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Minh N, Nguyễn Trung T, Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Kim N đã thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 01 gi 00 phút ngày 24/03/2022 Lâm Hoàng V, Nguyễn Minh N, Nguyễn Trung T, Lê Thị Ngọc T gặp nhau tại nhà của V tại số 186/9A đư ng Nguyễn Sơn, phư ng Phú Thọ Hoà, quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh. Tại đây, N rủ V, T, T đi trộm cắp xe máy mục đích để bán lấy T tiêu xài, cả nhóm đồng . Khi cả nhóm chạy ngang qua nhà số 116 đư ng Võ T Trang, Phư ng 11, quận Tân Bình, T phố Hồ Chí Minh phát hiện cửa hông hóa nên cả nhóm đột nhập vào trộm cắp tài sản. V và T dùng tay giật mạnh cánh cửa cổng làm bung chốt rồi đi vào trong nhà. T dắt xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 86H5-5091 và V dắt xe gắn máy hiệu Honda Vison biển số 60H5-071.80 ra ngoài đư ng. T và N ngồi trên xe có nhiệm vụ cảnh giới. Sau hi lấy trộm được tài sản, cả nhóm cùng đi về nhà của V tại số 186/9A đư ng Nguyễn Sơn, phư ng Phú Thọ H a, quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh để cất giấu. V mở cốp xe gắn máy hiệu Honda Vison biển số 60H5-071.80 phát hiện có 02 điện thoại gồm 01 Iphone X và 01 Iphone 7. Bị cáo T xin cả nhóm điện thoại Iphone 7 đem về cho con học online, V giữ điện thoại Iphone X. Ngày 25/3/2022, N đem bán 02 xe máy với giá 12.000.000 đồng và điện thoại Iphone X với giá 2.000.000 đồng cho một ngư i đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại Quận 6 rồi chia mỗi ngư i được 3.000.000 đồng, riêng V giữ lại 2.000.000đ T bán điện thoại.

Theo ết luận định giá tài sản số 76/HĐĐGTS-TTHS ngày 24/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Bình: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 86H5-5091, trị giá 7.000.000 đồng; 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 60H5-071.80, trị giá 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu iPhone X-64GB màu trắng trị giá 6.300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu iPhone 7-64GB màu đen trị giá 3.500.000 đồng. Tài sản không thu hồi được.

Vụ thứ 2: Khoảng 22 gi 00 phút ngày 27/3/2022, N đến nhà V thì gặp T, T đang ở đó. Đến hoảng 01 gi 30 phút ngày 28/3/2022, N nói với cả nhóm “trễ rồi, có đi hông” nghĩa là N rủ đi trộm cắp tài sản. V hiểu trả l i là “đi thì đi”, T và T cũng đồng đi chung. Khi chạy ngang qua dãy nhà trọ số 69 đư ng Thép Mới, Phư ng 12, quận Tân Bình, T phố Hồ Chí Minh cả bọn phát hiện các ph ng đều hông hoá cửa ngoài, T đi vào lấy dây buộc lại cửa hai ph ng ở giữa đề ph ng có ngư i mở cửa truy bắt. T, V đi đến cuối dãy trọ có một cửa sắt éo ngang đã được hoá, V dùng kiềm cắt ổ hoá. T, V đi vào thì thấy 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59P1- 612.41 và 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 59P1 - 300.10. V dùng đoản bẻ hoá xe gắn máy hiệu Honda Vision rồi dắt ra đến gần cổng. T dùng đoản bẻ hoá xe Honda Airblade nhưng hông bẻ được. N điều hiển xe đẩy phía sau để T điều hiển xe gắn máy Honda Airblade đi. V điều hiển xe gắn máy hiệu Honda Vision mới trộm, rồi tất cả cùng về nhà V. Tại đây, V và T đã tháo biển số 59P1-300.10 của chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade thay vào biển số 47G1-151.43 rồi V vứt biển số 59P1-300.10 vào thùng rác trước nhà.

Theo ết luận định giá tài sản số 76/HĐĐGTS-TTHS ngày 24/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Bình: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 59P1-612.41, trị giá 15.000.000 đồng, đã thu hồi trả lại cho bị hại là chị Lê Tuyết Anh. 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 59P1-300.10, trị giá 17.000.000 đồng, đã thu hồi và trả lại cho bị hại là chị Trần Thùy Trang

Vụ thứ 3: Vào hoảng 04 gi 00 phút ngày 28/3/2022, V chở T, N chở T cùng nhau đi trộm cắp tài sản. Khi chạy ngang nhà số 34 đư ng Dương Văn Dương, phư ng Tân Qu , quận Tân Phú, T phố Hồ Chí Minh thì phát hiện nhà có lối đi ế bên đang để 01 xe gắn máy. V nói cho T, N, T quay lại lấy trộm, cả 3 đều đồng . Cả nhóm quay trở lại dừng xe trước cổng rào lưới sắt lối đi bên hông nhà. T và N ngồi trên xe cảnh giới. T dùng iềm cắt đứt dây xích sắt trên cửa. V và T đi đến gần chiếc xe gắn máy hiệu Wave màu đen biển số 54P5-6963 nhưng xe được hóa bằng dây xích, T và V cắt đứt móc ổ hóa trên dây xích sắt rồi cả bọn cùng mang xe về nhà của V cất giấu.

Theo ết luận định giá tài sản số 603/KL-HĐĐGTS ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú: 01 xe gắn máy biển số 54P5-6963, trị giá 6.300.000 đồng và 01 ổ hóa, màu đen, bị cắt hông rõ nhãn hiệu nên hông xác định được giá trị. Bị hại là ông Nguyễn Văn Tiệp đã nhận lại xe máy trên và không yêu cầu bồi thư ng gì thêm.

Vụ thứ 4: Vào hoảng 00 gi 10 phút ngày 27/3/2022 V, T, T và Nguyễn Thị Kim N tụ tập tại nhà của V. T và T nói với V vàN “Đi làm” tức là đi trộm cắp tài sản, V vàN đồng . Khi cả nhóm chạy xe ngang nhà số 639/86 đư ng Hương Lộ 2, hu phố 7, phư ng Bình Trị Đông, quận Bình Tân, T phố Hồ Chí Minh phát hiện nhà hóa cửa bên ngoài, xác định hông có ngư i trong nhà nênN nói với cả nhóm trộm cắp nhà này thì cả nhóm đồng và dừng xe đối diện.N, T cảnh giới. V sử dụng cây mỏ lết cạy bung một ổ hóa, T dùng cây iềm cắt ổ hóa c n lại. V lấy một máy in hiệu Canon màu trắng, T lấy một xe gắn máy Dream biển số 51T9-8359 rồi mang về nhà của V cất giấu.

Theo ết luận định giá tài sản số 410/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân: 01 mô tô hiệu New Siva biển số 51T9-8359, trị giá 1.500.000 đồng và 01 máy in hiệu Canon F18200 trị giá 800.000 đồng. Bị hại là chị Bùi Thụy Vân Hài đã lại xe và máy in, không yêu cầu bồi thư ng gì khác.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ 04 điện thoại di động và trang phục của các bị cáo V, T, N, T.

- Thu giữ tại nhà của bị cáo V, số 186/9A Nguyễn Sơn, phư ng Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú:

+ 08 cái nón bảo hiểm; 08 cái áo; 06 cái quần và 01 giỏ xách bên trong có: 03 cây iềm, 02 đèn pin, 01 con dao rọc giấy, 01 bộ đoản bẻ ổ hóa, 01 bình xịt hơi cay, 02 ổ hóa, 01 đoạn dây cột giày dài 30cm, 01 đoạn dây cáp điện thoại, 01 gương xe chiếu hậu; 01 sợi dây xích bằng im loại bên ngoài bọc nhựa; 01 ổ hóa màu đen bằng im loại đã bị cắt tai hóa.

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 59P1-612.41 số khung: RLHJF3308CY214546, số máy: F33E0214594, là tài sản bị mất trộm tại nhà số 69 Thép Mới, phư ng 12, quận Tân Bình vào ngày 28/03/2022. Cơ quan điều tra trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Tuyết Anh.

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, gắn biển số: 47G1-151.43, qua xác minh, xe trên có biển số thật là 59P1-300.10 do bà Trần Thị Hiền đứng tên chủ xe, bà Hiền mua xe vào năm 2011, đến năm 2017 đã bán xe cho chị Trần Thùy Trang có làm giấy mua bán xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Cơ quan điều tra đã trao trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thùy Trang. Biển số 47G1-151.43 là của xe gắn máy hiệu Honda Future, do ông Nguyễn Văn Chúc tại địa chỉ T3, Cư Króa, M Drắ , tỉnh Đắ Lắ đứng tên chủ xe, ông Chúc mua xe cho cháu là Nguyễn Văn Quân sử dụng. Tháng 03 năm 2022, Quân bị mất trộm xe tại nhà trọ hẻm 225 Thoại Ngọc Hầu, phư ng Phú Thạnh, quận Tân Phú nhưng hông trình báo Công an phư ng vì nghĩ xe cũ có giá trị thấp.

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision gắn biển số: 72E1-139.52, xe của bị

cáo T sử dụng đi trộm cắp.

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 59V3-344.01, bị cáo Nguyễn Minh N khai xe này do bị cáo mượn của bạn gái tên Huỳnh Mai Hồng Ngọc ở cùng phòng trọ với N. Qua xác minh xe do ông Trương Hà Khánh, địa chỉ: 39/18 đư ng số 20 (số mới 496/63/19C Dương Quảng Hàm), Phư ng 6, quận Gò Vấp đứng tên chủ xe. Ông Trương Hà Khánh có đăng thư ng trú tại 39/18 đư ng số 20 (số mới 496/63/19C Dương Quảng Hàm), Phư ng 6, quận Gò Vấp đã bán nhà đi hỏi địa phương từ năm 2015, đi đâu hông rõ. Chị Huỳnh Mai Hồng Ngọc không biết bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra trả xe cho chị Ngọc.

+ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Luvias gắn biển số: 37L2-001.16, qua xác minh số khung: RLCL44S10DY072711, số máy: 44S1-072723 của xe trên nguyên thủy hông thay đổi. Không đủ cơ sở kết luận biển số 37L2-001.16 là thật hay giả. Bị cáo V khai xe do Minh (chưa rõ lai lịch) nh V đi sửa hóa, sửa xong có gọi điện thoại cho Minh nhưng Minh hông đến lấy xe. Đến ngày 29/3/2022, V để xe tại nhà thì bị công an tạm giữ. Xác minh số khung số máy xác định xe có biển số thật là 60B8-338.97 do ông Nguyễn Đức Trí đứng tên chủ xe, ông Trí bán xe cho ông Trần Đức Từ có làm hợp đồng mua bán tại Văn ph ng công chứng. Tháng 4 năm 2022, ông Từ bị mất xe tại trước nhà 338 Nguyễn Sơn, phư ng Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú nhưng do đang dịch Covid nên ông Từ hông đến Công an phư ng trình báo việc bị mất xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe cho ông Từ. Xác minh biển số 37L2-001.16 của xe gắn máy hiệu Honda Wave, do bà Nguyễn Thị Điểm đứng tên chủ xe, bà Điểm hông có mặt tại địa phương, đi đâu hông rõ.

+ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, gắn biển số 61C1-466, Bị cáo V hai xe này bị cáo mượn của ông Kha ( hông rõ lai lịch). Qua xác minh được biết số khung: RLCE55P10DY291949, số máy: 55P1-291965 của xe gắn máy Yamaha Exciter màu xám vàng có biển số thật là 92G1-107.47 do anh Võ Xuân Thanh đứng tên chủ sở hữu, ngày 01/3/2022 ông bị mất xe tại trước nhà 499B Mã L , phư ng Bình Hưng H a A, quận Bình Tân, anh Thanh đến Công an phư ng Bình Hưng H a A, quận Bình Tân. Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy cho anh Võ Xuân Thanh. Không đủ cơ sở kết luận biển số: 61C1-466.93 là thật hay giả. Xác minh biển số 61C1-466.93 là của xe gắn máy Yamaha Sirius, do anh Mai Hoàng Anh đứng tên chủ xe. Anh Mai Hoàng Anh có đăng thư ng trú tại A79 Bis Bình Đức, phư ng Bình Nhâm, TP. Dĩ An tỉnh Bình Dương đã bán nhà đi đâu hông rõ.

+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 54P5-6963 qua xác minh xe do ông Vũ Phạm Quốc V đăng chủ sở hữu, năm 2011 ông V đã bán cho cửa hàng xe máy Nguyễn Bắc. Năm 2021, cửa hàng đã bán xe này cho anh Nguyễn Văn Tiệp, có làm hóa đơn bán hàng. Ngày 28/3/2022, anh Tiệp bị mất xe tại trước nhà số 34 Dương Văn Dương, phư ng Tân Quý. Cơ quan Cảnh sát điếu tra trả xe cho anh Nguyễn Văn Tiệp.

+ 01 xe gắn máy hiệu New Siva, biển số 51T9-8359 và 01 máy in hiệu Cannon F158200, là tài sản bị mất trộm tại nhà 639/86 Hương lộ 2, KP7, phư ng Bình Trị Đông, quận Bình Tân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân trả cho chị Bùi Thụy Vân Hài.

Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKS-TB ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T và Nguyễn Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c hoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Lê Thị Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g hoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Thị Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a;

- Trong phần luận tội đại diện Viện iểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều iện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo như sau: Bị cáo Lâm Hoàng V từ 05 đến 06 năm tù; bị cáo Nguyễn Trung T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Minh N từ 04 đến 05 năm tù; bị cáo Lê Thị Ngọc T từ 05 đến 06 năm tù; bị cáo Nguyễn Thị Kim N từ 09 đến 12 tháng tù. Về vật chứng đề nghị xử l theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, buộc các bị cáo V, T, N, T có nghĩa vụ bồi thư ng cho bị hại theo yêu cầu.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, hông có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Về phần trách nhiệm dân sự: các bị cáo đồng bồi thư ng theo yêu cầu của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T và Nguyễn Thị Kim N, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện iểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên t a, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy l i hai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; hông có ai có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy l i hai nhận tội của các bị cáo phù hợp với ết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện iểm sát, l i hai của ngư i bị hại, những ngư i liên quan, ngư i làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở ết luận các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T vào các ngày 24/3/2022, 27/3/2022, 28/3/2022 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 06 xe gắn máy các loại, 02 điện thoại di động Iphone, 01 máy in hiệu canon tại nhà số 116 đư ng Võ T Trang, Phư ng 11, quận Tân Bình; nhà số 69 đư ng Thép Mới, Phư ng 12, quận Tân Bình; nhà số 34 đư ng Dương Văn Dương, phư ng Tân Qu , quận Tân Phú và nhà số 639/86 đư ng Hương lộ 2, hu phố 7, phư ng Bình Trị Đông, quận Bình Tân. Theo ết luận định giá, tổng giá trị tài sản các bị cáo V, T, T đã chiếm đoạt của bị hại là 87.400.000 đồng. Bị cáo N chiếm đoạt số T 85.100.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N và Lê Thị Ngọc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c hoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Lê Thị Ngọc T có nhiều T án, bản án trước đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trư ng hợp tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm. Do đó cần áp dụng thêm điểm g hoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị Kim N vào ngày 27/3/2022 đã có hành vi cùng 03 bị cáo V, T, T lén lút chiếm đoạt 01 máy in Canon và 01 xe gắn máy, có tổng trị giá là 2.300.000 đồng tại nhà số 639/86 đư ng Hương Lộ 2, hu phố 7, phư ng Bình Trị Đông, quận Bình Tân, T phố Hồ Chí Minh. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét trong vụ án này, các bị cáo thực hiện tội phạm có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, các bị cáo V, T và T tham gia thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, bị cáo N tham gia thực hiện 03 vụ. N là ngư i rủ rê các bị cáo cùng thực hiện tội phạm. Bị cáo V và T đều là ngư i trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của bị hại đồng th i đóng vai tr quyết định trong vụ án. Bị cáo T và N giữ vai tr là ngư i cảnh giới, hỗ trợ tích cực cho bị cáo V và T, cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại các địa điểm hác nhau. Bị cáoN làm nhiệm vụ cảnh giới, tham gia hỗ trợ cho bị cáo V, T, T thực hiện trót lọt 01 vụ chiếm đoạt tài sản. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu, quản l tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang lo lắng cho ngư i dân. Các bị cáo đã T niên, đủ hả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của ngư i hác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có T tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Các bị cáo V, T, N và T có nhân thân xấu, đã từng bị ết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, sau hi chấp hành xong bản án đã hông làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội, thức chấp hành pháp luật của các bị cáo rất ém. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có th i hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra hỏi xã hội một th i gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đồng th i có tác dụng răn đe, ph ng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này các bị cáo V, T và T 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo N thực hiện 03 lần. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo V và T đã bị ết án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này thuộc trư ng hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên t a, các bị cáo V, T, N và T đã T hẩn hai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi một phần để trả lại cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáoN phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại do tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng; T hẩn hai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần áp dụng điểm h, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Huỳnh Linh yêu cầu bồi thư ng số T 10.000.000 đồng. Bị hại Trương Thị Yến Nhi yêu cầu bồi thư ng số T 35.000.000 đồng. Xét yêu cầu của các bị hại là có căn cứ nên buộc các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Minh N, Nguyễn Trung T, Lê Thị Ngọc T có trách nhiệm liên đới bồi thư ng cho chị Phạm Huỳnh Linh số T 10.000.000 đồng; bồi thư ng cho chị Trương Thị Yến Nhi số T 35.000.000 đồng. Đối với các bị hại Lê Tuyết Anh, Trần Thùy Trang, Nguyễn Văn Tiệp, Bùi Thụy Vân Hài đã nhận lại tài sản và hông có yêu cầu bồi thư ng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử l vật chứng:

- Đối với 08 cái nón bảo hiểm; 08 cái áo; 06 cái quần và 01 giỏ xách bên trong có: 03 cây kiềm, 02 đèn pin, 01 con dao rọc giấy, 01 bộ đoản bẻ ổ khóa, 01 bình xịt hơi cay, 02 ổ hóa, 01 đoạn dây cột giày dài 30cm, 01 đoạn dây cáp điện thoại, 01 gương xe chiếu hậu; 03 biển số xe máy: 72E1-139.52; 61C1-466.93 và 37L2-001.16 thu giữ của các bị cáo xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Redmi Note 7 và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3 Pro màu bạc thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại di động Oppo A92 thu giữ của bị cáo T xét đây là tài sản cá nhân của hai bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho hai bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10 thu giữ của bị cáo N, xét bị cáo sử dụng điện thoại để nhắn tin liên lạc với bị cáo V rủ đi trộm cắp tài sản, xét đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộpN sách nhà nước.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision gắn biển số 72E1-139.52 thu giữ của bị cáo T, bị cáo T khai xe mua của một ngư i bạn tên Tin không rõ lai lịch, hông làm giấy mua bán. Qua xác minh, biển số 72E1-139.52 là giả và hông xác định được số hung: RLHJF3303CY212025, số máy: JF33E0211805 của xe gắn máy hiệu Honda Vision đứng tên của cá nhân hay tổ chức nào. Biển số 72E1-139.52 là của xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen đỏ do Nguyễn Duy Nam có địa chỉ tại ấp Nông Trư ng, xã Hắc Dịch, huyện Tân T (nay là khu phố 2, phư ng Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên chủ xe nhưng anh Nam hiện nay hông có mặt tại địa phương đi đâu hông rõ. Hội đồng xét xử xét thấy do chưa làm rõ được nguồn gốc và quyền sở hữu xe, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu trong một th i gian nhất định, quá th i hạn trên nếu hông làm việc được với chủ sở hữu thì tịch thu nộpN sách nhà nước theo quy định.

Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại tài sản gồm: Trả xe máy Honda Vision, biển số 59P1-612.41 cho chị Lê Tuyết Anh. Trả xe máy Honda Airblade, biển số 59P1-300.10 cho chị Trần Thùy Trang. Trả xe máy Honda Wave, biển số 54P5-6963 cho anh Nguyễn Văn Tiệp. Trả xe máy New Siva, biển số 51T9-8359 và 01 máy in hiệu Cannon cho chị Bùi Thụy Vân Hài. Trả xe máy Yamaha Exciter, biển số 92G1-107.47 cho anh Võ Xuân Thanh. Trả xe máy Yamaha Luvias, biển số 60B8-338.97 cho anh Trần Đức Từ. Trả xe máy Honda Vision, biển số 59V3-344.01 cho chị Huỳnh Mai Hồng Ngọc.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c hoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm g, h hoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T;

Căn cứ điểm c hoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm g hoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh N;

Căn cứ điểm c, g hoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm g hoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Thị Ngọc T;

Căn cứ hoản 1 Điều 173; điểm h, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim N;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T; Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lâm Hoàng V 05 (năm) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022.

Xử phạt: Nguyễn Trung T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022.

Xử phạt: Nguyễn Minh N 04 (bốn) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022.

Xử phạt: Lê Thị Ngọc T 05 (năm) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 28/3/2022.

Xử phạt: Nguyễn Thị Kim N 09 (chín) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T có trách nhiệm liên đới bồi thư ng cho chị Phạm Huỳnh Linh số T 10.000.000 (mư i triệu) đồng, cụ thể mỗi bị cáo bồi thư ng số T là 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng.

- Buộc các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T có trách nhiệm liên đới bồi thư ng cho chị Trương Thị Yến Nhi số T 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, cụ thể mỗi bị cáo bồi thư ng số T là 8.750.000 (tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng.

[3] Về xử l vật chứng:

- Giao xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 72E1-139.52, số hung: RLHJF3303CY212025, số máy: JF33E0211805 cho Cơ quan Thi hành án dân sự quận Tân Bình thông báo công hai trên các phương tiện thông tin đại chúng th i gian 01 năm nếu hông làm việc được với chủ sở hữu thì tịch thu nộpN sách nhà nước. Trư ng hợp có tranh chấp về quyền sở hữu thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 08 cái nón gồm: 01 nón bảo hiểm màu xanh đậm có chữ “Better choice for better life”, 01 nón bảo hiểm màu xanh nước biển có chữ “Family”, 01 nón bảo hiểm có chữ “Hello Kitty”, 01 nón ết màu đen, 01 nón bảo hiểm có hoa văn, 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu hồng có hình con gấu màu nâu có chữ “tonate Helmet”, 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ “mũ thể thao”.

+ 08 cái áo gồm: 01 áo gió sọc ca rô màu cam đen xám, 01 áo hoác tay dài màu xám, 01 áo khoác tay dài màu đen, 01 áo sơ mi tay dài màu trắng, 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám, 01 áo thu ngắn tay màu cam, 01 áo thun ngắn tay màu vàng, 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương có chữ “Livestrong”.

+ 06 cái quần gồm: 01 quần Jean ống dài màu đen, 01 quần Jean ống dài màu xanh, 01 quần tây ống dài màu đen, 01 quần Jean ống dài màu xám đen, 01 quẩn lửng màu đen, 01 quần Jean dài có chữ “Louis Vouiton”.

+ 01 giỏ xách bên trong có: 01 cây iềm cộng lực màu đen dài hoảng 40cm, 01 cây iềm cộng lực màu đen dài hoảng 50cm, 01 cây iềm mỏ lết màu trắng cam dài hoảng 20cm, 01 cây iềm cán màu đỏ, 01 đèn pin màu cam, 01 đèn pin màu đỏ, 01 con dao rọc giấy, 01 bộ đoản bẻ ổ hóa có 10 món, 01 bình xịt hơi cay, 01 gói niêm phong bên trong có 01 ổ hóa màu vàng có chữ “LEAD USA PAT” bị cắt 01 đoạn phần móc hóa, 01 đoạn dây cột giày dài 30cm, 01 đoạn dây cáp điện thoại dài 20cm, 01 gương xe chiếu hậu xe gắn máy màu bạc.

+ 01 sợi dây xích bằng im loại bên ngoài bọc nhựa dài 1,5M; 01 ổ hóa màu đen bằng im loại đã bị cắt tai hóa.

+ 03 biển số xe gồm: 61C1-466.93; 37L2-001.16; 47G1-151.43.

- Tịch thu và nộpN sách nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10 màu đen.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung T: 01 điện thoại di động Redmi Note 7 màu xanh dương và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3 Pro màu bạc.

- Trả lại cho bị cáo Lê Thị Ngọc T: 01 điện thoại di động Oppo A92 màu xanh ngọc bích.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16/BB/2023 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

[4] Về án phí:

- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo Lâm Hoàng V, Nguyễn Trung T, Nguyễn Minh N, Lê Thị Ngọc T, mỗi bị cáo phải nộp 562.500 (năm trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền háng cáo: Các bị cáo được quyền háng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày ể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền háng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các hoản T phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản T lãi của số T c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trư ng hợp pháp luật có quy định hác.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ