vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại đã nhận đầy đủ và không có yêu cầu đề nghị gì, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS - ST
Ngày: 24/05/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Tuấn

Ông Nguyễn Văn Cử

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST - HS, ngày 18 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn C, sinh năm: 1986 (Tên gọi khác Phạm Văn M), tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm 9, xã M, huyện M, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: ngày 27/11/2020 bị Tòa án nhân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Miễn án phí HSST) ngày 09/9/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Ngày 10/01/2017 bị Công an huyện Yên Mô xử phạt phạt 750.000 đồng vi hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa nộp phạt), ngày 18/6/2020 bị Công an xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa nộp phạt), ngày 01/6/2022 bị Công an xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa nộp phạt), ngày 26/4/2022 bị Công an xã Tân Thành, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa nộp phạt), ngày 21/8/2022 bị Công an thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa nộp phạt), ngày 10/01/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (Hiện bị cáo đang chấp hành Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính); Nhân thân: Ngày 28/4/2006 bị Tòa án nhân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” án phí 50.000 đồng (bị cáo đã chấp hành xong bản án), ngày 25/4/2017 bị Tòa án huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắpp tài sản ”, án phí 200.000 đồng (bị cáo đã chấp hành xong bản án), ngày 16/11/2018 bị Tòa án huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm 500.000 đồng, 338.000 đồng bồi thường trách nhiệm dân sự và 200.000 đồng tịch thu sung qũy Nhà nước (bị cáo đã chấp hành xong bản án), ngày 06/12/2013 bị UBND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Binh quyết định “Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc” thời hạn 24 tháng (bị cáo đã chấp hành xong ngày 03/6/2016), ngày 06/10/2016 bị Công an phường Yên Bình, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (bị cáo đã chấp hành nộp phạt), ngày 09/9/2019 bị Công an xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (bị cáo đã chấp hành nộp phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Ngọc H ( vắng mặt), bà Đoàn Thị H-Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Bị hại: Ông Bùi Đình Ch, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị M (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: xóm 8, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Hoàng Đức T, sinh năm 1976 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn Kh, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình

Chị Hoàng Thị Ph, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Kh, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 14/11/2022, Phạm Văn C đang ở nhà tại xóm 9, xã M, huyện M, tỉnh Ninh Bình thì có bạn là anh Hoàng Đức T, sinh năm 1976 trú tại thôn Kh, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình là người nghiện ma túy điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius Biển kiểm soát 35B1-277.98 đến nhà C hỏi có tiền không để đi mua ma túy về sử dụng.

Do không có tiền nên C đã rủ anh T đi vòng quanh các xã của huyện Yên Mô xem có nhà nào sơ hở để lấy tài sản bán lấy tiền mua ma túy thì anh T nhất trí. Anh Hoàng Đức T đã điều khiển xe mô tô biển kiếm soát 35N 1-277.98 chở Phạm Văn C đi lòng vòng qua các xã đến địa bàn xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô. Khoảng 12 giờ cùng ngày anh T chở C đi đến đoạn đê thuộc địa phận xóm 8, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô thì quan sát thấy khu chuồng trại chăn nuôi gà của gia đình ông Bùi Đình Ch, sinh năm 1963 ở xóm 8, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình không có người trông coi, cửa chuồng trại mở. Phạm Văn C bảo anh T dừng xe lại và nói “Anh ở trên trông người em xuống em bắt”. Anh T đứng ngoài cảnh giới, C xuống xe mô tô đi bộ vào khu chuồng của gia đình ông Ch nhìn thấy có khoảng 20 con gà, loại gà ri, lông mầu đen. C nhặt một bao xác rắn mầu xanh đã cũ ở gần chuồng gà rồi đuổi gà vào góc chuồng. Tại đây Phạm Văn C đã bắt được 09 con gà bỏ vào bên trong bao xác rắn rồi đi ra chỗ anh T đang đứng cảnh giới, anh T điều khiển xe mô tô chở C về nhà.

Khi về đến nhà C mang gà vào chuồng thả cùng với 01 con gà của gia đình có từ trước rồi nói với anh T “Bắt được có 09 con thôi anh ạ”, Tùng nhìn vào chuồng không nói gì. Do muốn có tiền sử dụng ma túy nhưng chưa bán được gà nên Phạm Văn C đi sang nhà em trai mình là anh Phạm Văn Th, sinh năm 1992 ở cùng xóm vay của anh Th số tiền 500.000 đồng. C đã nói dối anh Th vay tiền để mua gà về nuôi, do tin tưởng nên anh Th đã cho C vay số tiền 500.000 đồng. Sau khi vay được tiền C đi về nhà gặp và nói với anh T “Thôi gà để lại e nuôi đây có 500.000 đồng anh em mình cùng đi chơi” - Ý là đi mua ma túy thì T đồng ý. Phạm Văn C điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-27798 chở Hoàng Đức T đến thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy nhưng không mua được nên C chở anh T về nhà của C. Sau đó anh T điều khiển xe mô tô đi về nhà, số tiền 500.000đồng C đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 15/11/2022, ông Bùi Đình Ch có đơn trình báo đến Công an xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô. Quá trình xác minh Công an xã Khánh Thịnh thu giữ tại gia đình của Phạm Văn C 09 con gà do C tự giao nộp.

Đối với 01 bao tải màu xanh (loại bao xác rắn) cũ đã qua sử dụng, C lấy tại gia đình ông Chiến để đựng 09 con gà do C đã vứt đi nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại Bản kết luận số 12/ KL- HĐĐG ngày 26/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng giá trị của 09 con gà trống, loại gà gi, lông màu đen có trọng lượng mỗi con từ 1,2 đến 1,3 kg, tổng trọng lượng là 11,27 kg là 1.239.700 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 19/CT- VKSYM-HS ngày 18/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Văn C từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc đến điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn để giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các Quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 ngày 14/11/2022, tại trang trại chăn nuôi gà của gia đình ông Bùi Đình Ch ở xóm 8, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Binh, bị cáo Phạm Văn C là người đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 09 con gà (loại gà ri) có giá trị là 1.239.700 đồng của gia đình ông Bùi Đình Ch.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Tội trộm cắp tài sản thì

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng, đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a,….

b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa, được xóa án tích mà còn vi phạm;

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (hộ nghèo), bản thân bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo là người đã có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án và bị xử lý, xử phạt hành chính, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội cho thấy, bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại đã nhận đầy đủ, không yêu cầu đề nghị gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Sirius, Biển kiểm soát 35B 1-277.98, mầu sơn đen- trắng, số khung: 754073, số máy: 754084, đây là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị Ph (con gái anh Hoàng Đức T), chị Ph không biết anh T sử dụng xe mô tô trên đi Trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Ph là có căn cứ.

Đối với anh Hoàng Đức T là người đã cùng với Phạm Văn C di Trộm cắp 09 con gà có giá trị 1.239.700 đồng của gia đình ông Bùi Đình Ch. Quá trình điều tra xác định anh Hoàng Đức T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi phạm chiếm đoạt tài sản, chưa có tiền án về các tội chiếm đoạt tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt hành chính đối với anh T là có căn cứ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/02/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại đã nhận đầy đủ và không có yêu cầu đề nghị gì, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án miễn án phí cho bị cáo Phạm Văn C.

Án xử sở thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ