- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - Phạm tội TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS- ST Ngày: 27/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm
Bà Nguyễn Thị Hoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1969
Nơi cƣ trú: Thôn Thƣợng H, xã Bình L, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiêp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Ngọc Svà bà Nguyễn Thị D(đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Nvà 02 con; Con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Lê Văn S, sinh năm 1977 và chị U, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn Thƣợng H, xã Bình L, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23/12/2022, Nguyễn Ngọc L đi xe đạp điện mƣợn của chị Nguyễn Thị Hiên là con dâu L sang nhà anh Lê Văn S cùng thôn, mục đích hỏi anh Sáng có mua xe máy cũ thì L bán cho. Khi đến nhà anh Sáng, L dựng xe đạp điện ở đƣờng, trƣớc cổng nhà anh Sáng. Thấy cổng nhà anh Sáng đã mở sẵn, L đi vào trong sân nhƣng không thấy có ngƣời, quan sát thấy tại hành lang lối đi xuống nhà dƣới có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream bên ngoài và bên trong có 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đen, đỏ BKS 34B1-596.12 vẫn còn cắm chìa khoá, nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên làm phƣơng tiện đi lại. L lùi xe ra sân rồi dùng tay vặn chìa khoá nổ máy điều khiển xe máy ra khỏi cổng, đi theo hƣớng về nhà L. Khi qua nhà L khoảng 100m, do say rƣợu không điều khiển đƣợc xe máy nữa nên L dừng lại và để xe máy ở rìa đƣờng và quay lại nhà chị Út lấy xe đạp điện. Chị Út và cháu Lộc phát hiện mất xe, thấy 01 xe đạp điện lạ ở cổng nhà và thấy L vào lấy nên đã giữ lại và trình báo Công an.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc L thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đen, đỏ BKS 34B1-596.12 của gia đình nhà anh Sáng, chị Út.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 03/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Tứ Kỳ kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đen, đỏ BKS 34B1-596.12, tại thời điểm ngày 23/12/2022 là 13.000.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSTK, ngày 02/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L ra trƣớc toà để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Ngọc L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố. Về tội danh, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội Trộm cắp tài sản; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo L từ 09 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo thời gian thử thách 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Bình Lãng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 23/12/2022, tại sân nhà anh Lê Văn S ở thôn Thƣợng Hải, xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, lợi dụng sơ hở, Nguyễn Ngọc L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của gia đình anh Sáng 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Airblade, BKS 34B1-596.12 có giá trị 13.000.000đ.
Bị cáo là ngƣời đầy đủ có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.000.000đ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo trộm cắp đã đƣợc thu hồi trả cho ngƣời bị hại, ngƣời bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến hạng Nhì nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú rõ ràng, nên không cần thiết buộc phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú quản lý, giám sát cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 của BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho UBND xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Bị cáo phạm tội phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngƣời bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; -VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT, T.H.A. HS - CA huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Hồ sơ nghiệp vụ- CA huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Nhân Trác THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |