- Tranh chấp gì? án hình sự — "T có hành vi cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Quyết T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 11/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Cái Lê Chính Đạo.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thể - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông Đinh Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Cao Quyết T; tên gọi khác: không có; sinh ngày 09 tháng 4 năm 1996, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Quyết T1 và bà Phạm Thị Thanh N; có vợ: Lương Thị Minh T2 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (theo Quyết định số: 02 ngày 28/02/2022 của Công an huyện P) với số tiền phạt 4.000.000 đồng; nhân thân: Ngày 23/3/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra quyết định khởi tố do đã có hành vi cùng với đồng phạm gây thương tích cho người khác; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2022 đến ngày 16/9/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Anh Lương Tấn N1, sinh năm 2004. Trú tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+Anh Lê Văn S, sinh năm 1998. Trú tại: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
+ Chị Lương Thị Minh T2, sinh năm 1999. Trú tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt
- Người làm chứng :
1. Anh Trần M, sinh năm 2002. Trú tại: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
2. Anh Trần T3, sinh năm 1987. Trú tại: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
3. Anh Nguyễn Đình T4, sinh năm 1999. Trú tại: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
4. Anh Trương Công T5, sinh năm 2003. Trú tại: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 29/6/2022, tại nhà ở của mình ở thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Cao Quyết T cùng với Lê Văn S, Trần M, Trần T3 ngồi nhậu với nhau. Trong quá trình ăn uống, T có kể với cả nhóm việc bị anh L Tuấn N2 muốn tìm mình để gây chuyện. Khi nghe T kể thì cả nhóm nói khuyên T đừng có chấp, rồi cả nhóm nhậu tiếp và không nói gì đến chuyện đó nữa. Một lúc sau, do hết mồi nhậu, nên T một mình điều khiển xe mô tô 43F1- 410.50 (xe của chị Lương Thị Minh T2 - là vợ T) đi mua mồi để về nhậu tiếp. Khi T chạy xe ngang qua quán xăm “Tư Xoăn” ở xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện anh N2 đang ngồi chơi ở đó, nên T chạy xe về lại nhà của mình, rồi đi thẳng xuống bếp lấy 01 (một) cây dao tự chế (dạng mã tấu) đưa ra xe mô tô 43F1- 410.50 để đi đánh anh N2. Thấy vậy, mọi người can ngăn, nhưng T vẫn chạy xe đi tìm N2 để đánh, khi T đi thì chị Lương Thị Minh T2 (vợ của T) chạy ra nói Lê Văn S, anh T3, anh M chạy theo T để can ngăn việc T đi đánh nhau. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 43F1- 410.50 đến quán xăm “Tư Xoăn” rồi một mình cầm dao đi vào quán. Khi thấy T cầm dao đi vào, anh N2 bỏ chạy ra sau quán, thì bị T rượt theo chém 01 nhát trúng vào vai phải làm anh N2 ngã xuống, T chém tiếp 01 nhát trúng vào hông trái, sau đó không chém nữa mà đứng nói chuyện với anh N2. Lúc này, Lê Văn S chạy từ ngoài vào thì thấy T và anh N2 đang nói chuyện với nhau thì dùng tay kẹp cổ anh N2 kéo vào trong phòng (do khu vực này trời tối nên anh S chưa biết việc anh N2 đã bị T chém gây thương tích trước đó). S để anh N2 nằm trên nền nhà. T tiếp tục chửi bới và dùng tay đánh vào mặt, dùng chân đá vào bụng anh N2 một cái rồi bỏ đi. Khi T đi ra ngoài, S dùng tay đánh vào mặt anh Ngọc m cái, thì thấy máu chảy ra trên người anh N2, nên S không đánh nữa mà đi ra ngoài, rồi về nhà của mình. Sau đó, anh N2 được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 43F1- 410.50 nhãn hiệu Honda SH mang tên Lương Thị Minh T2; 01 con dao có cán dao và lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, dài 56,5 cm; lưỡi dao có mũi bằng, dài 39 cm và bề rộng lớn nhất 6 cm, bề rộng nhỏ nhất 4,7 cm; cán dao tròn dài 17,5 cm, phi 2,5 cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 269 ngày 01/7/2022 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y Sở Y tế tỉnh T đã kết luận thương tích của anh Lương Tuấn N3 như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Xây xát da nông trán vùng chân tóc: 1%; Vết thương phần mềm vùng vai đang được băng kín, đang điều trị, chưa đánh giá đầy đủ: 1%; Vết thương đứt đầu ngoài xương đòn phải đang còn điều trị, chưa đánh giá đầy đủ tổn thương: 8%; Vết thương phần mềm vùng bụng đang còn điều trị và băng kín, chưa đánh giá đầy đủ: 1%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 16% (Mười sáu phần trăm).
3. Vật gây thương tích: Tổn thương xây xát trán và gối trái do ma sát với diện tày nhám phù hợp với ngã tiếp xúc với mặt nền; Tổn thương vùng vai phải, hông trái do vật sắc; Chấn thương đụng dập lách do vật tày tác động.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 328 ngày 02/8/2022 của Trung tâm Giám định y khoa - pháp y Sở Y tế tỉnh T đã kết luận thương tích của Lương Tuấn N3:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Giám định lần 1 tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.
+ Giám định bổ sung: Xây xát da nông trán vùng chân tóc, không ảnh hưởng chức năng: 1%; Vết thương phần mềm vùng vai phải, không ảnh hưởng chức năng: 3%; Vết thương vai phải bông miếng xương mỏm cùng vai (đầu ngoài xương đòn phải), không ảnh hưởng chức năng: 8%; Vết thương vai phải trật khớp cùng đòn phải điều trị ổn định, không ảnh hưởng chức năng: 1%; Vết thương phần mềm thành bụng trái, không ảnh hưởng chức năng: 2%; Chấn thương lách độ II điều trị nội khoa bảo tồn, không ảnh hưởng chức năng: 7%; Xây xát gối trái, không ảnh hưởng chức năng: 1%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể qua hai lần giám định hiện tại là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
Trên con dao dài 56,5 cm ghi thu do bà Lương Thị Minh T2 giao nộp gửi giám định có dính máu người, nhóm O; Mẫu máu ghi thu của Lương Tuấn N3 gửi giám định thuộc nhóm máu O.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận với bị hại bồi thường số tiền 76.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí điều trị và bù đắp tổn thất về tinh thần. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSPL ngày 15 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Cao Quyết T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, đề nghị tịch thu tiêu hủy con dao, trả xe mô tô biển số 43F1- 410.50 nhãn hiệu Honda SH cho chị Lương Thị Minh T2
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo Cao Quyết T: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo xin lỗi bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 29/6/2022, tại quán xăm “Tư Xoăn” ở thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Cao Quyết T đã có hành vi dùng tay, chân và dùng dao tự chế (dạng mã tấu) là hung khí nguy hiểm đánh, chém vào vai phải, hông trái, mặt và bụng của anh Lương Tuấn N3, làm anh N3 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
Hành vi nêu trên của Cao Quyết T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được sức khỏe của người khác được Nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều phải bị xử lý. Song xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, bị cáo đã gây tổn hại sức khỏe của bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị xử phạt về hành vi hủy hoại tài sản, trong thời gian chờ tại ngoại để xét xử tiếp tục vi phạm pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi của Lê Văn S đồng phạm với Cao Quyết T trong việc dùng tay, chân đánh vào mặt và bụng của Lương Tuấn N3 gây thương tích 7%. Anh N3 đã có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Văn S. Do vậy, hành vi của Lê Văn S không cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 20/12/2022, Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn S với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi trên (theo Quyết định số: 01/QĐ-XPHC ngày 20/12/2022).
Đối với chị Lương Thị Minh T2, là chủ sở hữu xe mô tô biển số 43F1- 410.50, khi thấy T lấy xe và cầm dao đi đánh nhau thì chị T2 đã hô hoán mọi người can ngăn nên không có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Trần M, Trần T3, khi T đi đánh nhau thì M và T3 chạy theo với mục đích để can ngăn và khi đến nơi cũng không tham gia vào quá trình gây thương tích cho anh N3, nên không có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với con dao là công cụ phạm tội do đó cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 43F1- 410.50 nhãn hiệu Honda SH mang tên Lương Thị Minh T2, chị T2 đã can ngăn bị cáo, không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng xe đi đánh anh N3 nên cần trả lại cho chị T2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Cao Quyết T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Quyết T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt tạm giam, bị cáo được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 01/7/2022 đến ngày 16/9/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao có cán dao và lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, dài 56,5 cm; lưỡi dao dài 39 cm (bề rộng lớn nhất của lưỡi dao: 06 cm, bề rộng nhỏ nhất của lưỡi dao 4,7cm); cán dao tròn dài 17,5 cm, phi 2,5 cm.
Trả lại cho chị Lương Thị Minh T2 01 xe mô tô hiệu Honda SH125i màu trắng; có biển số 43F1- 410.50, số khung: RLHJF7317GY036313, số máy JF74E0035862 (xe cũ, đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu, không kiểm tra chất lượng bên trong xe) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006858 mang tên Lương Thị Minh T2 do Công an quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 21/4/2022.
(Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 01 năm 2023).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Cao Quyết T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phú Lộc; - Công an huyện Phú Lộc; - THADS huyện Phú Lộc; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Phương Thảo |