vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắm tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắm tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 08/02 /2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Minh Trí

Ông Hoài Đức Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc - Là thư ký Tòa án nhân dân

huyện NT, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Tòa án nhân dân huyện NT, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST - HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện NT, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 2000 tại Kiên Giang

Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ở hiện tại: sống lang thang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông Nguyễn Văn Minh và bà Hồ Thị Trúc Ly . Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2022, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện NT.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Trần Văn C , sinh năm 1988

Địa chỉ: Phường X, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người liên quan: Anh Nguyễn Văn T , sinh năm 1999.

Địa chỉ: Phường X, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

(Bị hại và người liên quan vắng tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 07/8/2022, Nguyễn Văn B đang ở phòng trọ tại phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì nhận được điện thoại của người tên Sếp (chưa rõ lai lịch) gọi B đến ngã ba NT để điều khiển xe mô tô do Sếp trộm cắp được đi về khu công nghiệp Long Thành và B sẽ được nhận 500.000 đồng. B đồng ý và gọi xe ôm (không rõ biển số) đi đến ngã ba NT. Đến 12 giờ 10 phút thì B đến ngã ba NT, Bình gọi điện thoại cho Sếp thì được Sếp chạy xe mô tô Sirius màu đỏ (không rõ biển số) đón chở B đến khu vực chợ đêm Hiệp Phước thuộc khu phố Phước Kiểng, thị trấn H, huyện NT rồi kêu Bình đứng đợi, còn Sếp chạy xe đi. Đến khoảng 15 phút sau, thì có 02 thanh niên (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đỏ, biển số 38P1-553.65 của anh Trần Văn C (sinh năm 1988), (xe này do Sếp trộm cắp mà có) chạy đến giao xe cho B rồi bỏ đi. Sau khi nhận xe, B ngồi lên xe nhưng xe không nổ máy được thì bị Công an huyện NT kiểm tra, phát hiện bắt giữ Bình cùng tang vật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 87/KLĐG-HĐĐG ngày 11/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện NT kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, hiệu Exciter, màu trắng-đỏ biển số 38P1-553.65, giá trị sử dụng còn lại là 50%, trị giá 25.900.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá của Hội đồng định giá nêu trên.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 ba lô bên trong có cục phá sóng định vị, 03 khóa số 10 và 01 khóa chữ L của Nguyễn Văn B là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội;

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen của Nguyễn Văn B sử dụng để liên lạc với tên Sếp;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ, biển số 38P1-553.65 đã trả lại cho anh Trần Văn C .

Tại Cáo trạng số: 220/CT-VKS-NT ngày 23 tháng 11 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện NT đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu đồng thời đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B từ 12 tháng đến 14 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị Tòa tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 ba lô bên trong có cục phá sóng định vị, 03 khóa số 10 và 01 khóa chữ L.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen.

Về trách nhiệm dân sự : Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đỏ, biển số 38P1-553.65 đã trả lại cho anh Trần Văn Chiến. Anh Trần Văn Chiến đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Trong vụ án này Bình khai còn có người tên Sếp và 02 người thanh niên (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đỏ, biển số 38P1-553.65 giao cho B mang đi tiêu thụ, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NT tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Sau khi nghe xong bản luận tội, bị cáo không có ý kiến gì và không tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NT, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Ta ̣i phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/8/2022 tại khu phố Phước Kiểng, thị trấn H, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn B đã hứa hẹn trước với người tên Sếp để mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ. Trong lúc Bình nhận được xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đỏ, biển số 38P1-553.65 trị giá 25.900.000đồng của anh Trần Văn C thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại Tòa trùng khớp lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai của bị hại cùng chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NT truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu về mặt an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Xét cần áp dụng hình phạt nghiêm để cách li bị cáo ngoài xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian sửa chữa bản thân trở thành người có ích cho xã hội và nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Trong vụ án này B khai còn có người tên Sếp và 02 người thanh niên (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đỏ, biển số 38P1-553.65 giao cho B mang đi tiêu thụ, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NT tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 ba lô bên trong có cục phá sóng định vị, 03 khóa số 10 và 01 khóa chữ L.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen.

. Về trách nhiệm dân sự :

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại cho anh Trần Văn Chiến, anh Chiến không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 BLTTHS.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 292, 298, 299, 326, 327, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 173 Bộ Luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắm tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 ba lô bên trong có cục phá sóng định vị, 03 khóa số 10 và 01 khóa chữ L.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu đen.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ