- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo H V T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 14/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Cao Thị Thu Ngà
Ông: Đinh Minh Tặng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
H V T, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2002 tại: Thị xã B Đ, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn C N, xã Qu M, thị xã B Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông H V Qu, sinh năm 1974 ( đã chết ) và con bà H Th A, sinh năm 1977 ( đã chết ), vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2023 đến ngày 28/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
Anh Đ Qu Tr – sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M X, xã X H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình
- Người làm chứng:
1. Bà Đ Th Ng – sinh năm 1958 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình
2. Anh Nguyễn Triệu Tuấn – sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tiểu khu 2, thị trấn Đ L, huyện T H, tỉnh Quảng Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, H V T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển kiểm soát 73K1 – 000… đến tại quán “Th gi x m c” tại Tổ dân phố 1, thị trấn Qu Đ, huyện M H để bán xe máy. Tại đây, T thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 12 Promax màu xanh xám của anh Đ Qu Tr đang cắm sạc tại bàn uống nước. Quan sát thấy không có ai, T lấy trộm điện thoại bỏ vào túi rồi lên xe rời khỏi quán. Nhận được tin báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa tổ chức truy xét phát hiện H V T đang đến bán điện thoại tại cửa hàng điện thoại ở thị trấn Đ L, huyện T H nên đã tiến hành thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ tang vật và phương tiện để xử lý.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KLĐG-HĐĐG ngày 27/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Minh Hóa kết luận: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 12 Promax, màu xanh xám, trị giá tại thời điểm bị mất trộm là 22.400.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đ Qu Tr đã nhận lại nguyên vẹn tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 12 Promax, màu xanh xám, điện thoại có ốp bằng nhựa màu trắng trong suốt, không kiểm tra chi tiết bên trong, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter 135 màu sơn xanh trắng, biển kiểm soát: 73K1 – 000…, xe đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 15/CT-VKSMH ngày 29/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo H V T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H V T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, tại quán “Th gi x m c” ở Tổ dân phố 1, thị trấn Qu Đ, huyện M H, H V T có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 12 Promax, màu xanh xám của anh Đ Qu Tr trị giá 22.400.000 đồng. Hành vi của H V T đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Tại phiên tòa bị cáo H V T đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo H V T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo H V T có nhân thân tốt
Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo H V T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã thấy được lỗi lầm của mình nên Hội đồng sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đ Qu Tr đã nhận lại nguyên vẹn tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng vụ án:
Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Đ Qu Tr, trú tại thôn M X, xã X H, huyện M H: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 12 Promax, màu xanh xám, điện thoại có ốp bằng nhựa màu trắng trong suốt, không kiểm tra chi tiết bên trong, đã qua sử dụng. Việc xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
Ngày 14/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển giao 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter 135 màu sơn xanh trắng, biển kiểm soát: 73K1 – 000…, xe đã qua sử dụng cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã B Đ, tỉnh Quảng Bình để giải quyết.
Việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Minh Hóa đúng quy định pháp luật nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo H V T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo H V T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo H V T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 22/3/2023).
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo H V T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/6/2023), bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Minh Hoá; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Minh Hoá; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Trương Quốc Hoàn |