vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 14/3/2023. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 01/12/2022 đến ngày 28/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 27/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím

Các Hội thẩm nhân dân: Bà H’ Thủy Bon Jốc Ju, ông Phạm Đình Bông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Hường – Thư ký TAND huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST- HS ,ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Hoàng H, sinh năm 1998 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Thôn L, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; chỗ ở hiện nay: Số D8, khu phố 6, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Công Ch (đã chết) và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 đến ngày 28/02/2023, ngày 01/3/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 14/3/2023 bị bắt tạm giam.

Về nhân thân: Ngày 26/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xử phạt 02 tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 19/2016/HSST; Ngày 15/01/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 10/2019/HSPT, bị cáo đã chấp hành xong.

- Bị hại: Bà Trương Thị Đ; địa chỉ: Thôn Tr, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt

Bà Trương Thị Thu Th; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Mạnh T; địa chỉ: Tổ 5, phường Đ, TP N, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoàng 20 giờ ngày 26/11/2022 Phạm Văn Th chở Bùi Hoàng H đến nhà Nguyễn Trọng Ng tại Buôn K, xã D, huyện K để chơi và ngủ lại, đến khoảng 2 giờ sáng thì Th và H đi về xã N, huyện K. Đến khoảng 9 giờ sáng ngày 27/11/2022 Th chở H đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn H, thị trấn M, huyện K thì H đi ngược lại và khi đi đến khu vực rẫy của gia đình ông Nguyễn Doãn C thì H phát hiện có chiếc xe máy biển kiểm soát 48F4 – 7832 không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đã cắt dây nguồn và nối lại rồi nổ máy xe đi về hướng xã N, huyện K.

Khi đến địa phận thôn C, xã N, huyện K thì H thấy trong sân nhà chị Trương Thị Thu Th có chiếc xe máy biển kiểm soát 48C1 – 170.82 cắm sẵn chìa khóa nên H đã để lại chiếc xe máy biển kiểm soát 48F4 – 7832 ở sân nhà chị Th và lấy chiếc xe biển kiểm soát 48C1 – 170.82 điều khiển chiếc xe đi thành phố N, tỉnh Đăk Nông. Khi H đến khu vực thành phố N, tỉnh Đăk Nông thì bị lực lượng cảnh sát giao thông truy đuổi nên H chạy vào nhà anh Trần Mạnh T, lúc này nhà anh T không có ai ở nhà nên H bỏ lại chiếc xe máy biển kiểm soát 48C1 – 170.82 ở bên hông nhà anh T và bắt taxi để đón xe đi Bình Dương. Sau khi bị mất tài sản bà Đ và chị Th đã trình báo công an xã D và công an xã N. Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 48C1 – 170.82 anh T đã trình báo và bàn giao cho Công an phường Đ, thành phố N, tỉnh Đăk Nông.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá và bán đấu giá tài sản huyện Krông Nô kết luận: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48F4 – 7832 tại thời điểm ngày 27/11/2022 có giá trị là 1.700.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 06/12/2022 của Hội đồng định giá và bán đấu giá tài sản huyện Krông Nô kết luận: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48C1 – 170.82 tại thời điểm ngày 27/11/2022 có giá trị là 20.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 34/KLGĐ, ngày 13/3/2023 kết luận đối với Bùi Hoàng H:

Kết luận về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/11/2022 và hiện tại thì Bùi Hoàng H bị bệnh: Rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành niên (F68 – ICD10) giai đoạn ổn định + HbsAg dương tính.

Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/11/2022 và hiện tại Bùi Hoàng H đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Cáo trạng số 18/CTr-VKS, ngày 24/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Bùi Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng H từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 14/3/2023. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 01/12/2022 đến ngày 28/02/2023.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu hồ sơ vụ án 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu bạc, nhãn hiệu SANDIKS, dung lượng 32GB;

Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 482/QĐ – CQĐT, ngày 12/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48F4 – 7832 và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48C1 – 170.82 cho chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Đối với việc bà Lê Thị Th trình báo mất 02 nhẫn vàng, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cú sẽ xử lý theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 27/12/2022 tại rẫy của ông Nguyễn Doãn C ở K, xã D, huyện K, Bùi Hoàng H đã trộm cắp chiếc xe máy biển kiểm soát 48F4 – 7832 có giá trị 1.700.000 đồng của bà Trương Thị Đ và chiếc xe máy biển kiểm soát 48C1 – 170.82 của chị Trương Thị Thu Th có giá trị 20.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị là 21.700.000 đồng.

Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương, gây tổn thất về vật chất cho bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xử phạt 02 tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 19/2016/HSST; Ngày 15/01/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 10/2019/HSPT. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Sau khi sự việc xảy ra ngày 01/12/2022 bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô để đầu thú. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với việc bà Lê Thị Th trình báo mất 02 nhẫn vàng, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cú sẽ xử lý theo quy định.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu hồ sơ vụ án 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu bạc, nhãn hiệu SANDIKS, dung lượng 32GB;

Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 482/QĐ – CQĐT, ngày 12/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48F4 – 7832 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trương Thị Đ và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48C1 – 170.82 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trương Thị Thu Th.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Bùi Hoàng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 14/3/2023. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 01/12/2022 đến ngày 28/02/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu hồ sơ vụ án 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu bạc, nhãn hiệu SANDIKS, dung lượng 32GB;

Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 482/QĐ – CQĐT, ngày 12/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48F4 – 7832 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trương Thị Đ và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48C1 – 170.82 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trương Thị Thu Th.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Hùi Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Người có quyền có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ