vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/3/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2023/HS-ST
Ngày 28-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Quốc Phòng - Giáo viên nghỉ hưu phường Châu Giang.

2. Ông Nguyễn Văn Thể - Cán bộ hưu phường Hòa Mạc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày tháng năm 2023 đối với:

- Bị cáo Bùi Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị O; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 02/01/2023 đến ngày 11/01/2023; chuyển áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo tại ngoại tại địa phương); có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh N, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Lê Thị D; anh Vũ Anh T, sinh ngày 15/7/2008 có người đại diện hợp pháp là ông Trương Bảo N - Phó bí thư Đoàn phường B; bà Nguyễn Thị O; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 01/01/2023, Bùi Văn T sau khi đi uống bia ở Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam về thì một mình đi bộ từ quán bia về nhà. Trên đường về khi đi qua khu nhà trọ của bà Trần Thị Thanh N ở Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, T thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh - đen - bạc BKS 90B2 - 178.xx của anh Nguyễn Mạnh Nghĩa ở Tổ dân phố Nguyễn Đoài, phường Tiên Nội, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam dựng ở trước sân phòng trọ của chị Lê Thị Dung (anh Nghĩa đến phòng trọ của chị Dung chơi và đang cùng chị Dung và một số người bạn đang ngồi ăn cơm trong phòng trọ) cạnh đường bê tông, xung quanh trời tối không có người trông coi. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 90B2 - 178.xx để làm phương tiện đi lại, rồi T tiến lại gần phát hiện chiếc xe mô tô BKS 90B2 - 178.xx không khóa cổ, không khóa càng. T dắt chiếc xe mô tô trên, đi về hướng Tổ dân phố G, phường B, thị xã D để về nhà cất giấu. T dựng xe ở sân nhà, thấy trên xe mô tô BKS 90B2 - 178.xx có dán nhiều đề can màu đen trắng nên T đã bóc hai miếng đề can ở đầu xe và sườn xe ra để tránh sự phát hiện của chủ xe. Do không có chìa khóa để mở xe nên T dựng trước xe mô tô BKS 90B2 - 178.xx ở sân nhà rồi đi ngủ.

Ngay sau khi bị mất xe, anh Nguyễn Mạnh N có đơn trình báo tới Cơ quan điều tra. Qua kết quả điều tra, xác minh, ngày 02/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiến đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Văn T để điều tra.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave màu xanh - đen - bạc BKS 90B2 - 178.xx, số khung 1255FY145182, số máy HC12E7145251, xe không có gương chiếu hậu, thân xe và chắn phần bùn có dán đề can dang 3D màu sọc đen trắng.

Tại Bản kết luận định giá tài số 01/KL-HĐ ngày 05/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Duy Tiên kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave màu xanh đen bạc, BKS 90B2 - 178.xx, số khung 1255FY145182, số máy HC12E7145251 , xe không có gương chiếu hậu, trên thân xe và phần chắn bùn có dán đề can dạng 3D màu sọc đen trắng (xe đã qua sử dụng) có giá 9.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công thị xã Duy Tiên đã xác định được: Xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave màu xanh đen bạc, BKS 90B2 – 178.xx được đăng ký tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn A (là bố đẻ của anh Nguyễn Mạnh N), khoảng tháng 7/2016 ông A đã cho anh N chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại tài sản là chiếc mô tô BKS 90B2 – 178.xx cho anh N. Anh Nguyễn Mạnh N đã nhận lại chiếc xe mô tô trên và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Cáo trạng số 22/CT-VKS- DT ngày 07/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Tại phiên toà: Bị cáo; bị hại có mặt không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 01/01/2023 tại khu nhà trọ của bà Trần Thị Thanh N thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sơ hở không có ai trông coi nên Bùi Văn T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh đen bạc BKS 90B2 - 178.xx của anh Nguyễn Mạnh N có giá trị 9.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã từng tham gia quân ngũ hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ những nhận định trên, xét bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, nay không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/3/2023).

Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo; bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ