vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn G 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19/11/2022. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn G phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày 17 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Diệu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn và ông Lê Thế Kỳ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp - Kiểm Sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Mai Văn G, sinh năm 1983 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 13, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Xuân Y và bà Cao Thị S, có vợ là chị Vũ Thị H (đã ly hôn) và 01 con; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2014/HSST ngày 06/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 11/06/2014 chấp hành xong hình phạt và ngày 15/8/2014 chấp hành án phí hình sự sơ thẩm (đã xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2022, đang tạm giam – Có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ, bà Hà Thị D, ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Như Q, anh Đào Xuân B - Đều vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Ông Phạm Minh Hậu và ông Nguyễn Ngọc Bảo, chiến sĩ Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông, tham gia tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/11/2022 Mai Văn G cùng một số người bạn của ông Đỗ Văn B gồm Nguyễn Văn Đ, Đào Xuân B, Nguyễn Như Q, Đỗ Văn H, Lê Thị H1 và Hồ Thị D đến xưởng cưa của ông Bảy thuộc thôn 6, xã Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông để cùng nhau uống rượu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ, B, Q, H, H và D rủ nhau đánh bài tiến lên ghi điểm để góp tiền đi hát karaoke. Đánh được một lúc, chị H1 và chị D không đánh bài nữa mà ngồi xem. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, G đi bộ từ khu vực cổng Trường THCS Nguyễn Trãi về nhà ông B để nghỉ ngơi. Khi về đến nhà ông Bảy thấy mọi người đang ngồi chơi đánh bài, G đi vào chiếc võng gần chỗ đánh bài để xem. Lúc này, G nhìn thấy chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8 Z 5G, màu vàng của chị Huệ đang để trên bàn uống nước, lợi dụng lúc chị Huệ đang xem đánh bài không trông coi tài sản, G nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Sau đó, G đi đến chiếc bàn lấy chiếc điện thoại của chị Huệ bỏ vào túi quần bên trái rồi đi ra ngoài cất dấu. Một lúc sau chị H1 phát hiện chiếc điện thoại di động bị mất nên nhờ mọi người gọi vào số điện thoại của mình để tìm điện thoại, khi nhận được cuộc gọi G đã bấm hủy cuộc gọi và tắt nguồn điện thoại rồi đem chiếc điện thoại di động giấu tại bụi cỏ ven đường gần Trường THCS Nguyễn Trãi, thuộc Bon Bu Sê Rê 2, xã Đ, huyện Đ. Sau khi cất giấu chiếc điện thoại di động trộm cắp, G quay trở về nhà ông Bảy, khi đi đến cổng nhà ông Bảy, do nghi ngờ G lấy trộm điện thoại nên chị H1 cùng mọi người có mặt ở đó giữ G lại và yêu cầu G trả lại chiếc điện thoại di động, nhưng G không thừa nhận đã lấy trộm điện thoại của chị H1 nên chị H1 đã trình báo Công an xã Đắk Ru để giải quyết. Biết hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động bị chị Huệ phát hiện, nên G đã đến Công an xã Đắk Ru đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và nơi cất giấu chiếc điện thoại di động đã trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KLHDĐG ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk R’Lấp, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8 Z 5G, dung lượng: 256G, màu vàng (dạng vàng đồng), tình trạng đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.190.000 đồng

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-ĐL ngày 30 tháng 01 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Mai Văn G về tội“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn G từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị H1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ngày 25/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 49/QĐ–CSĐT trả lại 01 thoại di động hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8Z 5G, dung lượng: 256G, màu vàng cho chị Lê Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận có mua ma túy của đối tượng tên T để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã tiến hành điều tra và xác minh nhân thân lai lịch của đối tượng tên T nhưng không xác định được nên không có cơ sở xử lý.

Đối với hành vi đánh bài của Nguyễn Văn Đ, Đào Xuân B, Nguyễn Như Q, Đỗ Văn H, Lê Thị H1 và Hồ Thị D. Quá trình điều tra xác định Đ, B, Q, H1, H và D đánh bài ghi điểm để đi hát Karaoke không có mục đích sát phạt được thua bằng tiền nên không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại là chị Lê Thị H1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người làm chứng là anh Nguyễn Văn Đ, bà Hà Thị D, ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Như Q, anh Đào Xuân B đều vắng mặt không có lý do. Chị Lê Thị H1, anh Nguyễn Văn Đ, bà Hà Thị D, ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Như Q, anh Đào Xuân B đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Lê Thị H1, anh Nguyễn Văn Đ, bà Hà Thị D, ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Như Q và anh Đào Xuân B theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/11/2022 tại nhà ông Đỗ Văn B thuộc thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Mai Văn G đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8Z 5 của chị Lê Thị H1 có trị giá 7.190.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng mong muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý thực hiện. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Mai Văn G đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2014/HSST ngày 06/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đến ngày 11/06/2014 chấp hành xong hình phạt và ngày 15/8/2014 chấp hành án phí hình sự sơ thẩm (đã xóa án tích).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: Chấp nhận ngày 25/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 49/QĐ–CSĐT trả lại 01 thoại di động hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8Z 5G, dung lượng: 256G, màu vàng cho chị Lê Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc bồi thường thiệt hại: Sau khi nhận lại tài sản, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận có mua ma túy của đối tượng tên T để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã tiến hành điều tra và xác minh nhân thân lai lịch của đối tượng tên T nhưng không xác định được nên không có cơ sở xử lý.

Đối với hành vi đánh bài của Nguyễn Văn Đ, Đào Xuân B, Nguyễn Như Q, Đỗ Văn H, Lê Thị H1 và Hồ Thị D. Quá trình điều tra xác định Đ, B, Q, H, H1 và D đánh bài ghi điểm để đi hát Karaoke không có mục đích sát phạt được thua bằng tiền nên không xem xét xử lý.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo và quan điểm xử lý về vật chứng là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo Mai Văn G mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa cũng đủ tính răn đe, trừng trị, giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về án phí: Bị cáo Mai Văn G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn G 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19/11/2022.

2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận ngày 25/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 49/QĐ–CSĐT trả lại 01 thoại di động hiệu OPPO, loại máy Oppo Reno 8Z 5G, dung lượng: 256G, màu vàng cho chị Lê Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Văn G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ