- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-PT Ngày: 18 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Ông Nguyễn Văn Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên..
- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Chung Hữu Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 10/2023/HSPT, ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Ngô Thành P, Thạch Ngọc Q, do có kháng cáo của bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/HSST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/ Bị cáo Ngô Thành P, sinh ngày 14/9/2003, nơi sinh tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình đ học vấn: 10/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thành C, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/9/2022 đến nay (bị cáo có mặt).
2/ Bị cáo Thạch Ngọc Q, sinh ngày 20/9/2004, nơi sinh tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình đ học vấn: 10/12; dân t c: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Ngọc A, sinh năm 1978 và bà Thạch Thị Thu Th, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/9/2022 đến nay (bị cáo có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người làm chứng nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ngô Thành P quen biết với bị hại Nguyễn Thành Đ, do bị cáp P nghi ngờ Đ cùng bạn bè bình luận trên facebook hăm dọa đánh bị cáo, nên khoảng 18 giờ ngày 13/6/2022 bị cáp P điện thoại rủ bị cáo Thạch Ngọc Q đi xuống thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh tìm Đ để đánh và được bị cáo Q đồng ý. Sau đó, bị cáp P đến tiệm sửa xe của anh Lê Nguyễn Hoàng U, ngụ đường K, khóm A, phường A, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh hỏi mượn Phúc m t đoạn kim loại (ống tuýp sắt) rồi đi về tiệm xăm của mình địa chỉ số 59 đường T, khóm A, phường A, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Khi được bị cáp P rủ đi đánh nhau, bị cáo Q mượn xe mô tô Future biển số 84B2-050.26 của anh Kim Thanh H, ngụ ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh điều khiển chạy đến tiệm xăm bị cáp P rồi chở bị cáp P đến tiệm sửa xe của anh Phúc, bị cáp P đi vào lấy m t đoạn kim loại tròn (ống tuýp sắt) dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 03 cm (đã hỏi mượn trước đó) để làm hung khí rồi đưa cho bị cáo Q cầm, bị cáp P điều khiển xe mô tô chở bị cáo Q chạy xuống thị trấn C tìm Đ để đánh. Do bị cáo Q chưa biết mặt Đ, trên đường đi bị cáp P nói “chúc nữa tôi đánh thằng nào thì ông vô đánh thằng đó nghe, đánh cảnh cáo nó thôi”, bị cáo Q đồng ý.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáp P chở bị cáo Q cầm theo đoạn kim loại đến Hoa viên (trước khu hành chính tập trung của UBND huyện C) thu c khóm M, thị trấn C, huyện C thì phát hiện Đ đang ngồi uống nước cùng nhóm bạn, lúc này bị cáp P dừng xe lại rồi đi thẳng đến chỗ Đ đang ngồi, bị cáp P dùng chân phải đá m t cái trúng vào vùng mặt của Đ làm Đ bị té ngã nghiêng người, thấy vậy bị cáo Q biết người bị cáp P kêu đánh là Đ nên bị cáo Q cầm đoạn kim loại dài khoảng 01 mét, cầm bằng hai tay xông vào đánh từ trên xuống, lúc này Đ chòm người ngồi dậy nên bị đoạn kim loại trúng vào vùng đỉnh đầu của Đ m t cái, bị cáo Q tiếp tục đánh thêm 04 - 05 cái trúng vào vai, tay và lưng của Đ, thấy Đ bị thương trên đầu chảy máu, các bạn của Đ can ngăn thì bị cáo Q dừng lại, lúc này bị cáp P giật lấy đoạn kim loại trên tay của bị cáo Q, cầm hai tay đánh liên tục trúng vào vai, tay và lưng của Đ thêm 03 cái nữa thì được bạn của Đ can ngăn và bị cáp P mới dừng lại.
Sau khi đánh gây thương tích cho Đ, bị cáo Q điều khiển xe mô tô chở bị cáo P ngồi sau cầm đoạn kim loại chạy về thành phố Trà Vinh, khi đến khu vực trước cổng Điện lực C thu c khóm D, thị trấn C, huyện C bị cáp P ném bỏ đoạn kim loại. Còn Nguyễn Thành Đ được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Khu vực C cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh điều trị, đến ngày 15/6/2022 thì ra viện tiếp tục đi đến Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh khám và điều trị. Ngày 01/7/2022, anh Nguyễn Thành Đ có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và yêu cầu xử lý hình sự đối với Ngô Thành P và Thạch Ngọc Q. Vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xác minh, điều tra làm rõ, các bị cáo đã thừa nhận toàn b hành vi phạm t i.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 99/22/TgT ngày 22/8/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Trà Vinh xác định thương tích của Nguyễn Thành Đ như sau: Sẹo trung bình vùng trán đỉnh, tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của bị hại Nguyễn Thành Đ là 02% (Hai phần trăm).
Cơ chế hình thành vết thương trên người của bị hại Nguyễn Thành Đ là: Do ngoại lực tác đ ng trực tiếp; vật gây ra thương tích trên là: Vật tày cứng; hướng từ trên xuống. Đoạn kim loại tròn (ống tuýp) dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 03 cm có thể gây ra các vết thương cho Nguyễn Thành Đ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/HSST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q phạm t i “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38 B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thành P 01 (m t) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 91, Điều 101, Điều 38 B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/01/2023 bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Ngô Thành P và bị cáo Thạch Ngọc Q khai và thừa nhận hành vi như án sơ thẩm đã thể hiện. Hai bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo và không cung cấp bổ sung tài liệu chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét, phân tích toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 20 giờ ngày 13/6/2022 các bị cáo Ngô Thành P, Thạch Ngọc Q có hành vi dùng đoạn kim loại dài 01 m đường kính 03 cm đánh nhiều cái vào vùng đầu, vai, lưng của bị hại Nguyễn Thành Đ với tỷ lệ thương tích 2%. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q phạm t i “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 B luật Hình sự là đúng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện, về hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Thành P 01 (m t) năm tù, bị cáo Thạch Ngọc Q 09 (chín) tháng tù là đã đánh giá đúng tính chất vụ án, vai trò, nhân thân từng bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ cho từng bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B luật Tố tụng hình sự không chấp kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Thành P và bị cáo Thạch Ngọc Q. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo Ngô Thành P: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 42.000.000 đồng và sẽ bãi nại cho bị cáo nhưng khi bị cáo bồi thường đủ số tiền thì tại phiên tòa sơ thẩm bị hại không bãi nại mà yêu cầu xét xử theo quy định pháp luật mong H i đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch Ngọc Q: Xin H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo làm lại cu c đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q là trong hạn luật định nên được H i đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q, H i đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Ngô Thành P và bị cáo Thạch Ngọc Q thừa nhận các bị cáo là người trực tiếp dùng chân, tay và đoạn kim loại đánh vào vùng đầu, vai, tay và lưng gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thành Đ với tỷ lệ thương tổn thương cơ thể qua kết quả giám định là 2%, mặc dù thương tích bị hại là 2% chưa đủ 11% trong cấu thành cơ bản của t i cố ý gây thương tích, tuy nhiên các bị cáo dùng đoạn kim loại đánh vào vùng đầu của bị hại gây thương tích, đoạn kim loại được xem là hung khí nguy hiểm, bị cáo Ngô Thành P và bị hại Nguyễn Thành Đ xảy ra mâu thuẫn chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cu c sống không phải là nguyên nhân dẫn để đến vấn đề bị cáo thực hiện hành vi đánh bị hại gây thương tích. Vì vậy hành vi của bị cáo Ngô Thành P dùng đoạn kim loại đánh vào vùng đầu bị hại gây thương tích là hành vi côn đồ. Đối với bị cáo Thạch Ngọc Q mặc dù không có mâu thuẫn gì với bị hại Nguyễn Thành Đ nhưng bị cáo tham gia trong vụ án cùng với bị cáo Ngô Thành P đã dùng hung khí là đoạn kim loại đánh bị hại gây thương tích với tỷ lệ 2%, do đó hành vi của bị cáo Thạch Ngọc Q cũng là hành vi mang tính chất côn đồ. Do đó, án sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm t i “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 B luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, các bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại với lỗi cố ý trực tiếp, t i phạm đã hoàn thành, hậu quả t i phạm đã xảy ra. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại m t cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đồng thời thể hiện sự xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Thành P mức hình phạt 01 (m t) năm tù, bị cáo Thạch Ngọc Q 09 (chín) tháng tù là đã xem xét đánh giá m t cách toàn diện, khách quan tính chất vụ án và hành vi phạm t i của các bị cáo và cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo khoản 1 Điều 51 b Luật Hình sự. Trong quá trình xét xử Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các quy định của B luật Hình sự về xử lý đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm t i đối bị cáo Thạch Ngọc Q, các bị cáo đều có tuổi đời rất nhỏ nhưng hành vi phạm t i rất liều lĩnh, nguy hiểm và hết sức côn đồ nếu không cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã h i thì khó giáo dục các bị cáo nên người. Nên án sơ thẩm không cho các bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho hai bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự như các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự là thiếu sót, nên cấp phúc thẩm áp dụng bổ sung cho các bị cáo, nhưng với các tình tiết đã nêu trên cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo. Do đó H i đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Thành P và bị cáo Thạch Ngọc Q. Giữ nguyên án sơ thẩm.
Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của H i đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q không được chấp nhận nên các bị cáo phải n p án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QU T ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Thành P và bị cáo Thạch Ngọc Q.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số:10/2023/HSST, ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q phạm t i “ Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Thành P 01 (m t) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 B tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i. Bu c bị cáo Ngô Thành P, bị cáo Thạch Ngọc Q mỗi bị cáo phải n p 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Trà Vinh; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CA huyện C; - CC THADS huyện C; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |