vanban.org

Bản án 16/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Tr, sửa bản án sơ thẩm số 55/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Giao bị cáo Bùi Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trườ ng hợp bi ̣ cáo Bùi Văn Tr thay đổi nơi cư trú thi thực hiê ̣n theo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi văn tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Tr, sửa bản án sơ thẩm số 55/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-PT
Ngày: 23/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương

Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu, Ông Dương Viết Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn Quang Tiến -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/HS-PT ngày 09 tháng 01 năm 2023đối với bị cáo Bùi Văn Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn Tr, sinh ngày 15/6/1989 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An, nơi đăng ký NKTT: Thôn B, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện tại: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn H, sinh năm 1963 đã chết và bà: Cao Thị D sinh năm 1968; vợ: Đào Thị Diệu Th (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo bị Công an huyện Lệ Thủy xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Mua dâm” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0000423/QĐ-XPHC ngày 03/4/2020. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15/7/2022, sau khi đi dự đám cưới tại xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, Bùi Văn Tr đi đến nhà chị Bùi Thị H ở thôn B, xã D, huyện L chơi. Lúc này nhà chị Hồng không có người, Tr vào nhà rồi đi đến phòng ngủ của anh Phạm Xuân Anh C (là con trai của chị H) nằm ngủ.Khi tỉnh dậy, Tr phát hiện thấy điện thoại di động Samsung Galaxy Note 10+ màu bạc của anh C để ở đầu giường nên nảy sinh ý định trộm cắp. Tr lấy điện thoại bỏ vào túi quần trước bên phải rồi đi về nơi ở của mình trong khuôn viên Công ty Minh Châu thuộc thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi nghe có người đến nhà tìm điện thoại, Tr đưa điện thoại vừa trộm được ra giấu ở bãi cát sau nhà.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 05/8/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy kết luận: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 10+ có giá trị 11.200.000 đồng.

Ngày 14/9/2022 , Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Phạm Xuân Anh C.

Giữa bị cáo Bùi Văn Tr và bị hại anh Phạm Xuân Anh C thỏa thuận tại phiên tòa, bị cáo bồi thường thêm cho anh C số tiền 6.000.000 đồng, hai bên đã giao nhận đủ.

Tại bản án số 55/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình quyết định tuyên bố bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản ". Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 14/12/2022, bị cáo Bùi Văn Tr có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn Tr giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh : Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận vào ngày 15/7/2022, khi đến nhà chị Hồng chơi đã lấy trộm điện thoại Galaxy của anh Cường con chị Hồng bỏ vào túi quần rồi đi về nhà mình tiếp tục nằm ngủ cho đến khoảng 21 giờ 30 phút khi nghe chị Tâm ở cùng nói có người đến tìm điện thoại, bị cáo sợ quá nên đưa điện thoại chạy ra sau nhà chôn dưới cát cất giấu, rồi bỏ đi xem bóng đá. Tài sản bị cáo lấy trộm được định giá 11.200.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ để khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xét xử và tuyên bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật

. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn Tr, Hội đồng xét xử thấy: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng, bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để giáo dục cải tạo tại địa phương, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Tr, sửa bản án sơ thẩm số 55/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trườ ng hợp bi ̣ cáo Bùi Văn Tr thay đổi nơi cư trú thi thực hiê ̣n theo

̀ quy đi ̣nh của Luâ ̣t thi hành án hinh sự . Trong thờ i gi an thử thách , nếu ngườ i

̀ được hưở ng án treo cố ý vi pha ̣m nghia vu ̣̃

theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t thi hành án hình sự 02 lần trở lên , thì Toà án có thể quyết định buộc ngư ời chấp hành án phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưở ng án treo . Trườ ng hợp thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i mớ i thi Toà án buô ̣c ngườ i đó phải chấp hành hinh pha ̣t

̀

̀ của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Bùi Văn Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ