vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/6/2016 và cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 17/12/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A. Chị A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị A và bị đơn Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ - ST
Ngày 27-7-2023
V/v tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Lê Thị Kiểm.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Tất – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2023/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện U, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị A trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 01/4/2016 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, bản thân anh H sống thiếu trách nhiệm với gia đình và vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, đánh cãi chửi nhau. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 4/2022 chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn H, đồng thời nhiều lần triệu tập anh H đến trụ sở Tòa án để giải quyết về việc chị A xin ly hôn anh, nhưng anh H đều cố tình vắng mặt. Tòa án đã đến tận nhà anh H tại thôn T, xã Đ, huyện K để xác minh và được ông Nguyễn Văn P là bố đẻ anh H, bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ anh H cung cấp: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị A được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 01/4/2016 tại UBND xã Đ, huyện K. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn là thực tế, theo ông bà tìm hiểu thì nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, ngoài ra chị A thường tỏ ra coi thường anh H, thờ ơ không quan tâm đến công việc của gia đình nhà chồng nên anh chị hay xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Ông P và bà M đều khẳng định anh H đi làm ăn tự do và vẫn đi về thăm gia đình thường xuyên. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đối với anh H, ngay sau mỗi lần nhận ông bà đều thông báo trực tiếp cho anh H biết. Tuy nhiên, anh H có đến Tòa án làm việc hay không thì ông bà không nắm được.

Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng cũng đã tiến hành làm việc với chính quyền địa phương xã Đ, huyện K và được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Nguyễn Văn H là công dân có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện K và vẫn thường xuyên có mặt tại địa phương. Theo địa phương được biết, việc mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị A xảy ra là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau; ngoài ra, chị A là con dâu nhưng trong cuộc sống luôn thờ ơ, không quan tâm đến công việc nhà chồng nên mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng. Nay địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho chị A được ly hôn anh H theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị A xác định chị và anh H có hai con chung là Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/6/2016 và Nguyễn Trí T, sinh ngày 17/12/2018, hiện nay cả hai cháu đều đang ở với với chị. Khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh H phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về con riêng: Chị A xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị A xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị A: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/6/2016 và cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 17/12/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002089 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lí do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn H là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 01/4/2016 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam. Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hòa thuận chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung với nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn anh H; còn anh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn. Theo xác minh tại địa phương và người thân của anh H thì mâu thuẫn vợ chồng chị A, anh H xảy ra là thực tế, khả năng hàn gắn tình cảm để anh chị đoàn tụ là rất khó. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa chị A và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho chị A được ly hôn anh H là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị A và anh H có hai con chung là Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/6/2016 và Nguyễn Trí T, sinh ngày 17/12/2018. Hiện nay cả hai cháu đều đang ở với chị A. Xét thấy từ khi anh chị ly thân nhau đến nay cháu K và cháu T đều đang ở cùng với chị A và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, nguyện vọng của cháu K cũng muốn được ở với mẹ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị A, giao cho chị A được quyền nuôi dưỡng cả hai cháu K và T, anh H không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị A là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con riêng: Chị A xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung; tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị A xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 16/6/2016 và cháu Nguyễn Trí T, sinh ngày 17/12/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A.

Chị A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002089 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (Chị A đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).

Báo cho chị A biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ