- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuấn - Phương"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Hạng Văn T, cho anh Hạng Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Nguyên; Ông Nguyễn Văn Tiến.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vương Thị Thanh Lan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên: Ông Vũ Đại Dương – Kiểm sát viên
Ngày 20/12/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số 123/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/QĐST-HNGĐ ngày 06/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hạng Văn T, sinh năm 1993, có mặt
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh B
Bị đơn: Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1995, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ X, phường C, thành phố S, Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, anh Hạng Văn T trình bày: Anh và chị Hoàng Thị P kết hôn năm 2020, đăng ký tại UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Anh và chị Phương kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do trong cuộc sống không có chung quan điểm sống, hay cãi nhau, anh và chị Phương đã sống ly thân từ năm 2022, chị Phương về ở với mẹ đẻ ở TDP Xuân Miếu, phường Cải Đan, TP Sông Công, Thái Nguyên, anh và chị Phương không còn quan hệ tình cảm hay quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phương.
Quá trình chung sống anh và chị Phương không có con chung. Tài sản chung, nợ chung: không có.
Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn theo yêu cầu khởi kiện.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Hoàng Thị Yến Phương thông qua người thân là bà Dương Thị Dưỡng (mẹ ruột và đang sống cùng nhà với chị Phương) nhận thay và bà Dưỡng xác nhận có thông tin cho chị Phương biết về việc anh Hạng Văn Tuấn khởi kiện ly hôn với chị Phương tại Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Chị Phương nhất trí để Toà án giải quyết ly hôn vắng mặt chị.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Hoàng Thị Yến Phương không có văn bản phản hồi cho Toà án về yêu cầu xin ly hôn của anh Hạng Văn Tuấn, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Toà án.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần để hòa giải cho anh T, chị Phương về đoàn tụ, nhưng chị Phương không đến Tòa án giải quyết vụ án, đến nay anh T vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với chị Phương. Do chị Phương vắng mặt tại các phiên hòa giải; Tòa án không tiến hành hòa giải được với các đương sự, nên vụ án được xét xử công khai ngày hôm nay.
Tại phiên tòa, chị Phương vắng mặt, anh Tuấn cương quyết yêu cầu ly hôn với chị Phương.
Tại phiên Toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền và quan hệ tranh chấp, cho đương sự viết bản tự khai, mở phiên hòa giải, kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
* Về quan điểm giải quyết vụ án :
- Về quan hệ vợ chồng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, cho anh T được ly hôn với chị Phương.
- Về con chung: Không có con chung
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Hoàng Thị P đang cư trú tại TDP Xuân Miếu 1, phường Cải Đan, thành phố Sông Công, Thái Nguyên. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa cho chị Phương theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng chị Phương vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2, Điều Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với chị Phương.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hạng Văn T và chị Hoàng Thị P kết hôn năm 2020 đăng ký tại UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang là hôn nhân hợp pháp.
Lý do anh T xin ly hôn chị Phương là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không cùng quan điểm sống, đã sống ly thân từ năm 2022, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin ly hôn. Tòa án đã tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh Tuấn, chị Phương về hàn gắn tình cảm gia đình nhưng chị Phương vắng mặt và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, thấy chị Phương không có thiện chí để hàn gắn tình cảm, vun đắp hạnh phúc gia đình. Tại biên bản làm việc với bà Dương Thị Dưỡng mẹ ruột của Phương, bà Dưỡng xác định anh Tuấn và chị Phương có được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, sau khi kết hôn chị Phương thi thoảng về chơi với ông bà nhưng đến đầu năm 2022 thì chị Phương về ở hẳn và không quay lại nhà chồng, sau đó bà biết chị Phương và anh Tuấn có xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân, hai bên gia đình có khuyên can nhưng không có kết quả.
Tình trạng vợ chồng anh Tuấn và chị Phương đã đến mức mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh T, cho anh T được ly hôn chị Phương là phù hợp với thực tế và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2015.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Hạng Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Anh T, chị Phương có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 180, 227, 228 Điều 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Hạng Văn T, cho anh Hạng Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị P.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Anh Hạng Văn T phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0000506 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
5. Về quyền kháng cáo: Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phương có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND TPSCTN; - Chi cục THATPSCTN; - Các đương sự; - UBND xã Biên Sơn, H.Lục Ngạn, Bắc Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thùy Dung |