vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn ông Võ Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN
Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 3 - 2023
V/v tranh chấp: “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Dũng.

2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 792/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D - sinh năm 2002 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 8, phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn T - sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 8, phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 10 năm 2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Văn T tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau khoảng 01 năm thì tổ chức đám cưới; tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2020; đến ngày 30/6/2020 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi tổ chức đám cưới và về chung sống với nhau thì vợ chồng ở nhà cha mẹ của ông T tại khu phố 8, phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà làm nghề may còn ông T làm nghề biển. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu; khoảng vài tháng sau, bà phát hiện ông T nghiện ma túy đá nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng về tiền bạc, xảy ra cãi vã. Do vợ chồng không hàn gắn được mâu thuẫn nên đầu năm 2021 bà mang con về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Đến tháng 5 năm 2022 bà làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T tại Tòa án nhưng vì nghĩ đến con còn nhỏ và ông T năn nỉ, hứa sửa chữa bản thân nên bà đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, chăm lo gia đình và cho ông T một cơ hội để sửa chữa lỗi lầm nhưng ông T vẫn chứng nào tật nấy. Vợ chồng ly thân đã hơn 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Bà không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông T nữa nên yêu cầu được ly hôn ông T.

Về con chung: Bà và ông Võ Văn T có 01 con chung là Võ Ngọc Bảo H - sinh ngày 05/11/2020; con chung hiện sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Võ Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 24/02/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ D vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.

Bị đơn là ông Võ Văn T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Võ Văn T.

Về con chung: Giao 01 con chung là Võ Ngọc Bảo H - sinh ngày 05/11/2020 cho bà Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Mỹ D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với ông Võ Văn T có nơi cư trú tại khu phố 8, phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

. Về việc vắng mặt nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 24/02/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ D xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227; Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

. Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn ông Võ Văn T nhưng ông T không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 30/6/2020. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Bà D và ông T sống ha ̣nh phúc được gần 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân gần 01 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà D là do ông T hút ma túy đá nên vợ chồng xảy ra cãi vã, bà và con bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ ông T thiếu thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình. Tại “Biên bản xác minh” ngày 27/12/2022, đại diện khu phố 8, phường MĐ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm cung cấp thông T: “... Ông Võ Văn T làm nghề biển, thường xuyên về nhà với vợ và con; bà Nguyễn Thị Mỹ D làm nghề may tại địa phương. Khi tìm hiểu thì địa phương được biết giữa bà D và ông T nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau và bà D có mang theo con bỏ đi. Hiện nay bà D và ông T không còn chung sống với nhau ...”. Xét thấy tinh tra ̣ng

̀ mâu thuẫn giữa bà D và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn đối với ông Võ Văn T.

. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn T có 01 con chung tên là Võ Ngọc Bảo H - sinh ngày 05/11/2020. Xét yêu cầu được nuôi con của bà D, thấy rằng: Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không sống chung với nhau; cháu H do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, cuộc sống đã ổn định, bà D có nghề nghiệp, thu nhập của bà D đủ khả năng lo cho cháu H. Mặt khác, cháu H là bé gái, mới được hơn 02 tuổi, quá trình phát triển toàn diện của cháu cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cho bà D là người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu ông Võ Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn ông Võ Văn T.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 01 con chung là Võ Ngọc Bảo H - sinh ngày 05/11/2020.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Võ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004643 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Mỹ D đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ