- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu M - Nguyễn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của bà M đối với ông P.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 15 - 02 - 2023. “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đông.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bình.
2. Ông Y Blao BKrông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 865/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà M – Sinh năm 1964 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Chợ B, phường E, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông P – Sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Chợ B, phường E, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà M trình bày có nội dung như sau:
Tôi và ông P tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/10/2003.
Trong quá trình chung sống, tôi và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách, lối sống không hợp nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông P.
Về con chung: Tôi và ông P có hai con chung là cháu N – Sinh ngày 11/8/1992 và cháu N1 – Sinh ngày 22/4/2003. Các con chung đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng tự lo cho cuộc sống của mình, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông P không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn ông P, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Đối với Nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của bà M.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận bà M được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà M và ông P có hai con chung là cháu N – Sinh ngày 11/8/1992 và cháu N1 – Sinh ngày 22/4/2003. Các con chung đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), nên bà M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn ông P. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông P đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân phường E, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21 tháng 10 năm 2003 (Giấy chứng nhận kết hôn số 104, quyển số 01/2003). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống, bà M và ông P xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà M trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách, lối sống không hợp nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P.
Kết quả xác minh tại địa phương cho biết: Bà M và ông P hiện sinh sống tại buôn B, phường E, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống tại địa phương, giữa Bà M và ông P phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Tuy nhiên bà M và ông P không yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải, nên địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà M và ông P. Nay bà M yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho ly hôn với ông P thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông P đến Tòa án để làm việc, hòa giải, nhưng ông P vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà M và ông P là không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của bà M xin ly hôn với ông P, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét về con chung: Bà M và ông P có hai con chung là N – Sinh ngày 11/8/1992 và N1 – Sinh ngày 22/4/2003. Các con chung đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), có khả năng tự quyết định cuộc sống của mình nên bà M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm theo quy
̀ định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của bà M đối với ông P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà M được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà M và ông P có hai con chung là N – Sinh ngày 11/8/1992 và N1 – Sinh ngày 22/4/2003. Các con chung đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), nên bà M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí:
Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm , được
̀ khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thu ột, tỉnh Đắk Lắk , theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021634 ngày 17 tháng 10 năm 2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Phòng NVKT&THA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lăk; - VKSND TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - UBND phường E, TP. BMT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Thị Đông |