vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Vũ Hà Thiên N và ông Đinh Thái Duy K.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Đinh Thái Hà P, sinh ngày 18/4/2019; Đinh Thái Linh P, sinh ngày 02/4/2021 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, bà N đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Vũ Hà Thiên N và ông Đinh Thái Duy K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH L M ĐỒN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/4/2023
V/v: Ly hôn giữa bà N và ông K

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N THÀNH PHỐ BẢO LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tăng Thị Nhật Minh.

2. Ông Nguyễn Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 443/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022, về "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-DS ngày 16/3/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Hà Thiên N, sinh năm 1994.

Địa chỉ: đường L, Phường M, thành phố Bảo Lộc, tình Lâm Đồng. (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đinh Thái Duy K, sinh năm 1994.

Địa chỉ: đường P, phường N, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

NỘI DUN VỤ ÁN:

+ Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2022 và các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Vũ Hà Thiên N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đinh Thái Duy K đăng ký kết hôn ngày 01/11/2017 tại UBND phường N, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trước khi kết hôn đã tìm hiểu 04 năm, từ khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà phát hiện ông K nghiện ma túy nên vợ chồng thường xuyên tranh cải, bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, không tôn trọng nhau, ông K không có trách nhiệm với gia đình, bà đã khuyên ông K đi cai nghiện nhưng ông K không đồng ý. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 04 năm 2021 đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm của bà dành cho ông K không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đinh Thái Hà P, sinh ngày 18/4/2019; Đinh Thái Linh P, sinh ngày 02/4/2021. Hiện hai con chung đang ở với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, bà đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

+ Trong qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông K không đến Tòa án làm việc và không có văn bản ý kiến trình bày.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà N được ly hôn với ông K là có cơ sở chấp nhận; về con chung: giao 02 con chung tên Đinh Thái Hà P, sinh ngày 18/4/2019; Đinh Thái Linh P, sinh ngày 02/4/2021 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung, nợ riêng đương sự khai không có nên không đề cập đến. Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Vũ Hà Thiên N khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Đinh Thái Duy K, đường P, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Đinh Thái Duy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Hà Thiên N và ông Đinh Thái Duy K đăng ký kết hôn ngày 01/11/2017 tại UBND phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Theo bà N trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà phát hiện ông K nghiện ma túy nên vợ chồng thường xuyên tranh cải, bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, không tôn trọng nhau, ông K không có trách nhiệm với gia đình. Bà và ông K không thể hàn gắn để về chung sống với nhau, ông bà đã sống ly thân từ tháng 04 năm 2021 đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai.

Qua xác minh tại địa phương bà N, ông K trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông K làm nghề lái xe nên thường xuyên vắng nhà, từ tháng 4 năm 2021 bà N về nhà mẹ đẻ sinh sống, bà N và ông K không chung sống cùng nhau. Trong thời gian vợ chồng chung sống cùng nhau, bà N là người thường xuyên chăm sóc con chung, hiện 02 con chung đang sống cùng bà N.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nlà có căn cứ và hợp pháp.

[3]. Về nuôi con chung: Bà N và ông K có 02 con chung tên Đinh Thái Hà P, sinh ngày 18/4/2019; Đinh Thái Linh P, sinh ngày 02/4/2021, hiện hai con chung đang do bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà N đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên giao 02 con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

[4]. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

[5]. Về nợ chung, nợ riêng: Đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.

[6]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[7]. Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Vũ Hà Thiên N và ông Đinh Thái Duy K.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Đinh Thái Hà P, sinh ngày 18/4/2019; Đinh Thái Linh P, sinh ngày 02/4/2021 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, bà N đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Vũ Hà Thiên N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005361 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ