- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T khởi kiện Lương Văn K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lương Văn Khôi.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-4-2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Minh Lệ;
Bà Trần Thị Thanh Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử số 03 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2023/TB-TLVA ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Xn, xã G, huyện G1, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lương Văn Khôi; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Xn, xã G, huyện G1, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 27/12/2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Lương Văn K kết hôn ngày 23/7/2007 tại UBND xã Gio Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống do không hợp tính tình, quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu Tẫn, đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Anh K đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan đã gần 10 năm và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị T viết đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lương văn Khôi.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lương Quang Đ, sinh ngày 13/02/2009 và cháu Lương Quang T1, sinh ngày 29/9/2007. Chị T có nguyện vọng được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Lương Văn K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2023, bà Nguyễn Thị Hương Lan (mẹ của anh Lương Văn Khôi) có ý kiến như sau:
Anh Lương Văn K hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2013. Năm 2016, anh K có trở về Việt Nam thăm gia đình một lần. Anh K thường xuyên liên lạc với gia đình qua mạng xã hội facebook.
Anh K và chị T có hai con chung là cháu Lương Quang Đạt, sinh ngày 13/02/2009 và cháu Lương Quang T1, sinh ngày 29/9/2007. Cháu Đ và cháu cháu T1 hiện đang ở với bà nội tại Thôn Xn, xã G, huyện G1, tỉnh Quảng Trị.
Về việc giao nhận các văn bản tố tụng bà Lan đồng ý nhận và cam đoan sẽ thông báo cho anh K biết về các nội dung văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
Quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng Điều 5 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 71, 72, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lương Văn Khôi.
- Về con chung: Giao hai cháu Lương Quang Đạt, sinh ngày 13/02/2009 và cháu Lương Quang Thuận, sinh ngày 29/9/2007 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị T hiện trú tại Thôn Xn, xã G, huyện G1, tỉnh Quảng Trị, chị T có đơn xin ly hôn với anh Lương Văn Khôi, hiện anh K đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Theo Công văn số 67/PA08-Đ1 ngày 14/01/2023 của Phòng quản lý XNC Công an tỉnh Quảng Trị, anh K xuất cảnh lần gần nhất vào ngày 04/5/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại.
Trước và sau khi thụ lý vụ án bị đơn và thân nhân của bị đơn không cung cấp địa chỉ nơi làm việc ở nước ngoài của bị đơn nhưng vẫn liên lạc với gia đình thông qua điện thoại nên được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Do đó, Tòa án căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tòa án đã tiến hành các phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K vắng mặt, chị T có đơn xin không tiến hành hòa giải. Tòa án đã tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đã tiến hành tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua người thân của bị đơn là bà Nguyễn Thị Hương Lan (mẹ anh Khôi). Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ hai anh K vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K kết hôn ngày 23/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Gio Việt, huyện Gio Linh trên cơ sở tự nguyện. Theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm:
Theo như chị T trình bày: Năm 2007, chị T và anh K kết hôn, trong quá trình chung sống do không hợp tính tình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Anh K đi xuất khẩu lao đông tại Đài Loan đã gần 10 năm và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ được nên chị T xin ly hôn với anh Khôi.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu khởi kiện của chị T xin ly hôn anh K là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung:
Vợ chồng anh Khôi, chị T có hai con chung là cháu Lương Quang Đạt, sinh ngày 13/02/2009 và cháu Lương Quang Thuận, sinh ngày 29/9/2007. Khi ly hôn, Chị T có nguyện vọng nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Theo kết quả xác minh, cháu Lương Quang T1và cháu Lương Quang Đ hiện đang là học sinh trường Trung học cơ sở Gio Việt, huyện Gio Linh. Các cháu trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với bà nội để thuận lợi cho việc đi học. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay, anh K đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu. Mặt khác, chị T hiện đang ở Việt Nam, do đó để đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng và phát triển bình thường của hai cháu, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Lương Quang Đ và cháu Lương Quang T1cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét buộc anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp sau này khi anh K về nước có nguyện vọng nuôi con chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí. Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lương Văn Khôi.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lương Quang Đ, sinh ngày 13/02/2009 và cháu Lương Quang T1, sinh ngày 29/9/2007 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lương Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000224 ngày 03/02/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị T đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luât. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Quảng Trị; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự; - Phòng KTNV; - Tổ HCTP; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Viết Nam |