- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-J"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19 – 5 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Văn Ngọt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Sang
Bà Nguyễn Thị Mai Rý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2023/TLST–HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1346/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số D, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Mai Thi J (J), sinh năm 1998. Địa chỉ: Số A F, B, LA G, Hoa Kỳ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2022; bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H trình bày như sau:
Ông và bà Mai Thi J tự nguyện tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân. Ông bà đã đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân huyện C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 19/4/2018. Sau khi kết hôn bà J xuất cảnh sang Hoa Kỳ, còn ông vẫn ở lại Việt Nam cho đến nay. Ông bà không có điều kiện cũng như không có thời gian chung sống, gần gũi để có thể vun đắp tình cảm vợ chồng, Vì xa nhau thời gian dài nên ông bà không thể hiểu, chia sẻ cho nhau, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, ông bà đã không còn tình yêu thương với nhau nữa. Ông nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà J không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: Ông yêu cầu được ly hôn với bà Mai Thi J, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện tại công việc của ông bận rộn nên không thể tham gia vụ kiện. Do đó, ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án bao gồm tất cả phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên xét xử của Toà án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo văn bản nêu ý kiến của bị đơn bà Mai Thi J trình bày:
Bà Mai Thi J thống nhất với ông Nguyễn Quốc H về hoàn cảnh, điều kiện kết hôn cũng như những mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng ông bà không thể hàn gắn để tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này. Vì vậy, nay đối với yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Quốc H thì bà có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Bà Mai Thi J đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Quốc H.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, do bà Mai Thi J đang làm việc và sinh sống tại Hoa Kỳ, không có điều kiện về Việt Nam tham gia vụ kiện nên bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J là ly hôn, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H có địa chỉ ở Việt Nam; bị đơn bà Mai Thi J hiện nay đang có quốc tịch và địa chỉ ở nước ngoài (Hoa Kỳ) nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J xác lập hôn nhân với nhau vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 19/4/2018 nên hôn nhân giữa ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nhận thấy, sau khi kết hôn, bà J trở về Mỹ cho đến nay không có về Việt Nam, ông H thì hiện vẫn sinh sống ở Việt Nam. Do khoảng cách địa lý xa xôi nên cho ông bà không thể gặp mặt, không có thời gian chung sống để hiểu nhau, quan tâm chăm sóc lẫn nhau,từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và không thể hàn gắn,vì vậyông Nguyễn Quốc H yêu cầu được ly hôn với bà Mai Thi J. Tòa án nhận được văn bản ý kiến của bà Mai Thi J về việc bà cũng đồng ý ly hôn với ông H. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của ông H và bà J đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không có quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông H yêu cầu ly hôn với bà J là có cơ sở nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, nhận thấy việc ông Nguyễn Quốc H yêu cầu ly hôn với bà Mai Thi J là có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.Ông H và bà J không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
Về con chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án cũng không nhận được yêu cầu giải quyết của bên thứ ba. Nếu sau này có sự tranh chấp thì các bên có liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Quốc H phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40, Điều 147, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quố c hộ i quy đị nh về mứ c thu , miễ n, giảm, thu, nộ p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò a á n.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J.
1.1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc H được ly hôn với Bà Mai Thi J.
1.2. Về con chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Ông Nguyễn Quốc H và bà Mai Thi J đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án cũng không nhận được yêu cầu giải quyết của bên thứ ba. Nếu sau này có sự tranh chấp thì các bên có liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Quốc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001776 ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. Ông H đã đủ án phí.
3. Sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng là chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam ra nước ngoài theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004562 ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự Bến Tre.
4. Ông Nguyễn Quốc H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Mai Thi J được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre; - UBND huyện Châu Thành; - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre; - Các đương sự; - Phòng KTNV; VP; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Ngọt |