- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Xuân Tr được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-02-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phát Lộc
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Lê Minh Thật
2. Bà Lê Thị Mỹ Linh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm T, sinh năm: 1999 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 04, xã VTT, huyện VT, tỉnh Hậu Giang
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Tr, sinh năm: 1998 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 02, thị trấn VV, huyện LM, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo ñôn xin ly hoân ngày 01/10/2022, quá trình tố tụng và tại tòa hôm nay, nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm T trình bày:
Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Xuân Tr tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn VV. Trong quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Tr không lo cho vợ con nên vợ chồng thường cải nhau và vợ chồng ly thân nhau từ đầu tháng 06 năm 2022 đến nay. Do tình cảm không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Tr.
Trang 1
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Hùng M, sinh ngày 19/08/2019 hiện đang ở với chị T, chị T yêu cầu nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu toà án giải quyết
Bị đơn anh Nguyễn Xuân Tr trình bày:
Anh Tr thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Đối với nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì anh Tr không thống nhất, anh Tr cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì mà vào giữa tháng 6 năm 2022 chị T tự ý bỏ về nhà mẹ ruột ở và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh Tr không đồng ý ly hôn do còn thương vợ, con.
Về con chung: Anh Tr thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Văn Hùng M, sinh ngày 19/08/2019 hiện đang ở với chị T. Nay chị T yêu cầu nuôi con anh Tr không đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng, anh Tr yêu cầu chị T giao con chung lại cho mẹ ruột của anh Tr nuôi dưỡng với lý do anh Tr từ trước tới nay anh Tr không có chăm sóc con, con do chị T chăm sóc nên anh Tr không biết cách chăm sóc con. Vì vậy anh Tr yêu cầu giao con cho mẹ ruột của anh Tr nuôi dưỡng thay anh Tr.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Xuân Tr tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng thường xuyên cải vả nhau và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh Tr không thống nhất ly hôn. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tạo điều kiện để chị T và anh Tr có thời gian để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Tr và chị T không có cách nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị T kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh Tr. Xét đời sống chung không thể
Trang 2 kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ.
Về con chung: Chị T và anh Tr thừa nhận có 01 đứa con chung tên Nguyễn Văn Hùng M, sinh ngày 19/08/2019, hiện đang sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con. Anh Tr yêu cầu chị T giao con chung lại cho mẹ anh Tr nuôi dưỡng thay cho anh Tr do anh Tr không biết cách chăm sóc con. Xét thấy, từ khi chị T và anh Tr sống ly thân nhau thì cháu Nguyễn Văn Hùng M do chị Tiên nuôi dưỡng. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho cháu Nguyễn Văn Hùng M nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Văn Hùng M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Tr chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh Tr, không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Xuân Tr được ly hôn.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Hùng M, sinh ngày 19/08/2019 cho chị Võ Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Văn Hùng M trưởng thành (tròn 18 tuổi). Anh Nguyễn Xuân Tr chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh Nguyễn Xuân Tr không ai có quyền cản trở.
Trang 3
3. Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006507 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ. Chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện LM; - THA huyện Long Mỹ; - UBND xã (để theo dõi); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Phát Lộc Trang 4 |