- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị N và anh G"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 5 - 2023 V/v: Ly hôn giữa chị N và anh G. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tiến Mãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Hạnh, bà Ngô Thị Thu Hoà.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Nhung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2023/TLST - HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N - Sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn Đồng Cách, xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Trần Văn G - Sinh năm 1974.
Đi ̣a chi: Thôn Đồng Cách, xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.̉
Tại phiên tòa vắng mặt chị N, anh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Trần Văn G lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định vào ngày 02/02/1995. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau; anh G nhiều lần đánh chị và xúc phạm gia đình chị. Chị và anh G đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2022. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh G, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn G có 01 con chung là cháu Trần Ngọc L, sinh ngày 20/12/1995. Hiện nay cháu L đã trưởng thành và tự lập được nên chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn G nhưng anh G không đến Tòa án để làm việc. Tòa án về làm việc với địa phương để xác minh, thu thập chứng cứ, được biết: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Khang, huyện Ý Yên vào ngày 02/02/1995. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào, địa phương không nắm được. Chị N đã bỏ về bên gia đình nhà ngoại từ cuối năm 2022 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G có 01 con chung là cháu Trần Ngọc L, sinh ngày 20/12/1995. Anh G đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh G không đến Tòa án để làm việc.
Do anh Trần Văn G vắng mặt, nên Toà án không tiến hành hoà giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt, tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến đánh giá quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thụ lý, tiến hành thu thập chứng cứ và thực hiện các thủ tục tố tụng đúng pháp luật. Tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị N và anh G chung sống có đăng ký kết hôn năm 1995 tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Khang là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng xảy ra cãi chử đánh nhau; chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2022 cho đến nay. Vì vậy đề nghị áp dụng Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình giải quyết để chị N được ly hôn với anh G. Về con chung, chị N và anh G có một con chung là cháu Trần Ngọc L, sinh ngày 20/12/1995. Hiện nay cháu L đã trưởng thành và tự lập được nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác, chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N thì Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn”. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt với những lý do chính đáng. Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh Trần Văn G vắng mặt. Để mở lại phiên tòa này, Tòa án đã tiếp tục thực hiện tống đạt quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa lần hai Nng anh G vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G kết hôn ngày 02/02/1995, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận và có một con chung với nhau nhưng hạnh phúc không duy trì được. Mâu thuẫn phát sinh do tính cách vợ chồng trái ngược nhau, bất đồng quan điểm sống. Chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, sống ly thân với anh G từ cuối năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G có một con chung là cháu Trần Ngọc L, sinh ngày 20/12/1995. Hiện nay cháu L đã trưởng thành và tự lập được, chị N không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp là 300.000đ, đối trừ với số tiền 300.000đ chị N đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003880, ngày 17/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn G vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự; - UBND xã Yên Khang; - Lưu: HS, VP. | Vũ Tiến Mãn |