- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Tân ly hôn với bà Sang"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-5-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc;
2. Bà Vanh Si Tha.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm: 1988; địa chỉ cư trú: Số 267, ấp Nhà Máy A, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Néang Kim S, sinh năm: 1983; địa chỉ cư trú: Tổ 02, ấp PL, xã ÔL, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, có mặt ông T; bà S vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/01/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, ông Lê Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà S được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2019, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 170 ngày 07/10/2019. Cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông từng hút chích và bị xét đưa vào trại cai nghiện năm 2020. Năm 2021 khi ra trại thì bà S không về sống chung với ông nữa mà dắt con về sống cùng cha mẹ ruột và hiện tại thì đi đâu không rõ, ông tìm cách hàn gắn nhưng không thành. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông xin được ly hôn với bà S.
Về quan hệ con chung: Ông với bà S có 01 con chung tên Lê Thiên K, sinh ngày 29/02/2020, hiện do bà S nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông giao con chung cho bà S nuôi, ông xin không cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Ông với bà S không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Ông với bà S không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho bà Néang Kim S để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, ông T rút lại yêu cầu giải quyết phần con chung. Riêng bà S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng bà vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Ông T – bà S chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do ông T nghiện ma túy nên bà bỏ về cha mẹ sống và ly thân với ông Tân; thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, nên ông Tân xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, theo ông T khai có 01 con chung tên Lê Thiên K, sinh ngày 29/02/2020, nhưng ông T rút lại yêu cầu nên đề nghị HĐXX đình chỉ. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Ông T khởi kiện ly hôn với bà S, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà S có địa chỉ cư trú tại xã ÔL, huyện TT, tỉnh An Giang, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Bà S được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Ông T – bà S có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 170 ngày 07/10/2019, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, ông T bảo lưu ý kiến của mình, bởi do ông bị nghiện ma túy và từng bị đưa đi cai nghiện vào năm 2020, nên không làm tròn nghĩa vụ của người chồng người cha đối với vợ con, từ đó bà S bỏ nhà đi và ly thân với ông; thời gian ly thân đã lâu, gia đình đứng ra hàn gắn nhưng không thành.
Qua trình bày của ông T, mặc dù bà S vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 21/03/2023 của Tòa án thể hiện: Vợ chồng T – S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông T lười lao động chỉ biết ăn chơi không quan tâm gia đình, ông T đã từng sử dụng và nghiện ma túy đã bị đưa đi trại cai nghiện 01 lần và đang sống chung với người phụ nữ khác, nên khả năng đoàn tụ lại với bà S là không thể…
Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa ông T – bà S đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy, tại Tòa ông T khai giữa ông với bà S có 01 con chung tên Lê Thiên K, sinh ngày 29/02/2020, hiện do bà S nuôi và đồng ý giao cho bà S tiếp tục nuôi. Tuy nhiên, qua giải thích của HĐXX, ông T tự nguyện rút lại yêu cầu này. Xét, việc ông T rút lại yêu cầu giải quyết về con chung với bà S là tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên HĐXX công nhận và đình chỉ giải quyết yêu cầu này của ông T.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông T khai ông với bà S không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên, do bà S vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này bà S có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và bà S có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 217, 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Minh T.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Minh T được ly hôn với bà Néang Kim S.
Về quan hệ con chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu về quan hệ con chung giữa ông Lê Minh T với bà Néang Kim S.
Về án phí: Ông Lê Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009836 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (ông Tân nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/05/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành; - UBND xã Khánh Hưng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |