- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 3 - 2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Ngân Kim Tới.
Ông Trần Huy Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 223/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị Đ; Sinh năm: 1958; Địa chỉ: Ấp Nh, xã Tr, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Lâm Văn H; Sinh năm: 1959; Địa chỉ: Ấp Nh, xã Tr, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 02 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Đ và ông Lâm Văn H tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 1999, nhưng đến năm 2009, ông bà mới đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17 ngày 22/01/2009. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà Đ và ông H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay bà Đ xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông H không còn, nên bà Đ yêu cầu ly hôn với ông H; Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Đ và ông H có 01 người con chung là Lâm Hồng Ch, sinh ngày 30/10/2000. Hiện nay, Ch đã thành niên, không mắc bệnh tật gì và tự lao động nuôi sống bản thân, nên bà Đ không có yêu cầu gì về con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Đ và ông H không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Đ không có yêu cầu gì.
Bị đơn là ông Lâm Văn H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông H không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; Về con chung, về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Lâm Văn H là bị đơn trong vụ án, ông H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Đối với nguyên đơn bà Lê Thị Đ đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Đ và ông Lâm Văn H là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2021, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông H là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Đ. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Đ được ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Đ và ông H có 01 người con chung là Lâm Hồng Ch, sinh ngày 30/10/2000. Hiện nay, Ch đã thành niên, không mắc bệnh tật gì và tự lao động nuôi sống bản thân, nên bà Đ không có yêu cầu gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Lê Thị Đ thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Lê Thị Đ không phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình; Ông H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Đ được ly hôn với ông Lâm Văn H.
2. Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Đ và ông H có 01 người con chung là Lâm Hồng Ch, sinh ngày 30/10/2000. Hiện nay, Ch đã thành niên, không mắc bệnh tật gì và tự lao động nuôi sống bản thân, nên bà Đ không có yêu cầu gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Lê Thị Đ thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Lê Thị Đ không phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình; Ông H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Đ và ông Lâm Văn H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Trần Đề; - Chi cục THADS huyện Trần Đề; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuyên |