vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Phan Văn S.

Về con chung: Chị Vũ Thị Du được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến T, sinh ngày 25/01/2015; anh Phan Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19/8/2013; chị D, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung không ai đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị D - Phan Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Phan Văn S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 6 - 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình La

Bà Trần Thị Kim Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Phan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Diệu, sinh năm 1993 (có mặt)

Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ hiện nay: Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn S, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị D trình bày: Chị kết hôn với anh Phan Văn S ngày 15/11/2012, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh S tại thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm bình thường, đến tháng 3/2018 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày nên chị và anh S thường xuyên xảy ra xô xát. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên tháng 9/2021 chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc sinh sống, chị và anh S sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị và anh S đã có nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19/8/2013 và cháu Phan Tiến T, sinh ngày 25/01/2015. Hiện nay cháu Đ và cháu T đang ở với anh S. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu T, để anh S nuôi cháu Đ, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phan Văn S, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án cho anh S; tuy nhiên anh S không tới Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Tại phiên tòa, anh S vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, cho chị D được ly hôn anh Phan Văn S. Về con chung, chị Vũ Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến T, anh Phan Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến Đ; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn S và giải quyết về con chung; anh Phan Văn S có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn anh Phan Văn S: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh S đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt. Tại phiên tòa, anh S vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Phan Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị D và anh S là hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xô xát; chị D và anh S đã sống ly thân từ tháng 9/2021 cho đến nay, không còn sự quan tâm, trách nhiệm đối với nhau. Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H về hộ khẩu của anh S, thể hiện anh S có hộ khẩu và đang sinh sống tại thôn C, xã H, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh S đến Tòa án làm việc và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh S đều vắng mặt không có lý do; điều đó chứng tỏ anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm, quá trình giải quyết vụ án chị D kiên quyết xin ly hôn anh S. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D đề nghị được ly hôn anh S là phù hợp.

Về con chung: Chị D và anh S có 02 con chung là cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19/8/2013 và cháu Phan Tiến T, sinh ngày 25/01/2015. Hiện nay cháu Đ và cháu T đang ở với anh S. Ly hôn, chị D đề nghị được nuôi cháu T, để anh S nuôi cháu Đ, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình giải quyết vụ án, cháu Đ có nguyện vọng được ở với bố, cháu T có nguyện vọng được ở với mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn.

Xét thấy, chị D và anh S hiện nay đều là lao động tự do và có đủ điều kiện nuôi con. Cháu T có nguyện vọng được ở với chị D, cháu Đ có nguyện vọng được ở với anh S nên để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các cháu cần giao cháu T cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Đ cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp; chị D, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Phan Văn S.

2. Về con chung: Chị Vũ Thị Du được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến T, sinh ngày 25/01/2015; anh Phan Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19/8/2013; chị D, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003276 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Chị D đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ