vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thanh Tài N.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thanh Tài N được ly hôn anh Nguyễn Anh S. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thanh Tài N - anh Nguyễn Anh S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thanh Tài N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23-8-2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Anh Huê và ông Tưởng Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: không.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10/8/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thanh Tài N; nơi cư trú: Khu dân cư 3, ấp 8, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh S; nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Võ Thanh Tài N trình bày: Chị và anh Nguyễn Anh S có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai vào ngày 14/7/2022. Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau. Hiện tại chị N thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, tình cảm không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được vì vậy nguyện vọng xin ly hôn đối với anh S.

Về con chung: Theo chị N thì giữa vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/8/2022. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày, giữa hai vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Anh S trình bày: Về quan hệ hôn nhân thì giữa anh và chị Võ Thanh Tài N có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ngày 14/7/2022. Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó, cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Hiện tại anh cảm thấy mình thật sự không còn tình cảm gì với chị Võ Thanh Tài N nữa, không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc được, nên nguyện vọng xin được ly hôn, đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/8/2022. Sau khi ly hôn, anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung nhưng vì con còn quá nhỏ nên anh đồng ý giao con chung cho chị Võ Thanh Tài N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh S trình bày, giữa hai vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thanh Tài N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi dưỡng con chung, vì vậy, xác định đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Võ Thanh Tài N và anh Nguyễn Anh S đều có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thanh Tài N và anh Nguyễn Anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai vào ngày 14/7/2022, vì vậy quan hệ hôn nhân là hoàn toàn hợp pháp. Cuộc sống chung hạnh phúc của vợ chồng không được bao lâu đã xảy ra mâu thuẫn, giữa hai người tính tình ngày càng không hợp, bất đồng quan điểm, không hòa hợp cùng nhau nên thường xảy ra xung đột, cãi vã nhau; hai bên không tìm được hướng đi chung, không còn quan tâm, lo lắng gì đến nhau, không còn giải pháp hàn gắn. Anh S, chị N xác định thật sự không còn tình cảm gì với nhau, không thể quay lại để tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa mà nguyện vọng xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống bản thân. Xét nguyện vọng mong muốn xin được ly hôn của các bên đương sự và xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh S và chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét xử cho chị Võ Thanh Tài N được ly hôn anh Nguyễn Anh S.

Về quan hệ con chung: Giữa anh Nguyễn Anh S và chị Võ Thanh Tài N có một con chung là Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/8/2022. Quá trình giải quyết vụ án chị N có nguyện vọng mong muốn được nuôi dưỡng con chung và anh S cũng thống nhất giao con chung cho chị N nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con của các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung cho chị Võ Thanh Tài N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N không yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thanh Tài N và anh Nguyễn Anh S đều thừa nhận, vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc chị Võ Thanh Tài N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thanh Tài N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thanh Tài N được ly hôn anh Nguyễn Anh S.

2. Về quan hệ con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Bảo K, sinh ngày 16/8/2022 cho chị Võ Thanh Tài N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Chị Võ Thanh Tài N không yêu cầu anh Nguyễn Anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Võ Thanh Tài N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để sung vào ngân sách nhà nước. Số tiền án phí chị N phải chịu trên được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu số 0002301 ngày 03/7/2023.

Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ