- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị Bích L và Danh R"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Bích L.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-3-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 157/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2022 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị Bích L, sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu Chỗ ở hiện nay: Nhà Trọ số 443, Chiến Lược, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
- Bị đơn: Anh Danh R, sinh năm: 1985; Địa chỉ: ấp Tam S1, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tô Thị Bích L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2013, chị Tô Thị Bích L và anh Danh R có tổ chức lễ cưới và đi đăng ký kết hôn quá hạn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2014. Hôn nhân của chị Liêu, anh Rết được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị ai bắt buộc. Sau khi kết hôn, chị Liêu và anh Rết chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh để làm ăn, sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chị Liêu, anh Rết chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2019 thì chị Liêu và anh Rết phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa chị Liêu và anh Rết do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn trong chuyện tiền bạc từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn chị Liêu, anh Rết nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, vợ chồng vẫn tiếp tục cãi vã. Đến giữa năm 2021 thì chị Liêu và anh Rết sống ly thân. Nay chị Tô Thị Bích L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh R.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Tô Thị Bích L và anh Danh R có 01 (một) con chung là Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014). Hiện nay cháu Lâm đang sống chung với anh Rết cùng với ông bà nội của cháu Lâm. Sau khi ly hôn chị Liêu đồng ý tiếp tục giao cháu Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014) cho anh Danh R trực tiếp nuôi nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị Liêu cấp dưỡng nuôi cháu Lâm, mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 07 hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào ngày 07 tháng 3 năm 2023, cấp dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tô Thị Bích L tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đối với bị đơn anh Danh R: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Tô Thị Bích L tại Thông báo thụ lý vụ án số: 283/TB-TLVA, ngày 02 tháng 11 năm 2022 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Danh R, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Rết đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Rết đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Rết nhưng anh Rết không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Phúc đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Tô Thị Bích L.
Tại Biên bản ghi ý kiến của cháu Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014) lập ngày 17 tháng 01 năm 2023, cháu Danh Hoàng Lâm trình bày như sau: Hiện nay cháu Lâm đang học lớp 3, cháu học loại khá, hiện nay cháu Lâm đang sống cùng với ông bà nội, cha đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cha vẫn thường xuyên về thăm cháu. Nếu cha mẹ ruột của cháu Lâm không còn chung sống với nhau thì cháu Lâm có nguyện vọng được sống cùng với cha và ông bà nội, vì mẹ đi làm xa ít về thăm cháu, hiện nay cháu Lâm học hành ổn định, cuộc sống của cháu Lâm vẫn phát triển bình thường. Còn đối với mẹ thì cháu Lâm không không yêu cầu gì.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Bích L, về việc chị Liêu yêu cầu ly hôn với anh Danh R và chị Liêu đồng ý giao con chung tên Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014) cho anh Rết trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi, chị Liêu cấp dưỡng nuôi cháu Lâm, mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 07 hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào ngày 07 tháng 3 năm 2023, cấp dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi. Còn về tài sản chung, nợ chung chị Liêu tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Bích L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Bị đơn anh Danh R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Tô Thị Bích L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Tô Thị Bích L và bị đơn anh Danh R, có nơi cư trú tại ấp Tam Sóc B1, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Bích L và anh Danh R xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Tô Thị Bích L và anh Danh R tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2014 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Liêu trình bày do chị Liêu, anh Rết bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn trong chuyện tiền bạc từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn chị Liêu, anh Rết nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, vợ chồng vẫn tiếp tục cãi vã. Đến giữa năm 2021 thì chị Liêu và anh Rết sống ly thân, khi sống ly thân chị Liêu, anh Rết mỗi người có công việc, cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Liêu vẫn cương quyết xin ly hôn với Danh R. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa chị Liêu, anh Rết đã đến mức trầm trọng, hiện nay chị Liêu, anh Rết không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tô Thị Bích L được ly hôn với anh Danh R.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Tô Thị Bích L đồng ý tiếp tục giao con chung tên Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014) cho anh Danh R trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Lâm thì cháu Lâm có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh Danh R.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Danh Hoàng Lâm nên việc giao cháu Lâm cho anh Rết trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Danh Hoàng Lâm cho anh Rết tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị Tô Thị Bích L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phúc thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Tại phiên tòa chị Liêu đồng ý cấp dưỡng cho cháu Lâm, mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 07 hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào ngày 07 tháng 3 năm 2023, cấp dưỡng cho đến khi cháu Lâm đủ 18 (mười tám) tuổi . Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị Tô Thị Bích L tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Chị Tô Thị Bích L tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Tô Thị Bích L phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Bích L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Bích L được ly hôn với anh Danh R.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Danh Hoàng L (nam, sinh ngày 24-6-2014) cho anh Danh R trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Danh Hoàng L (nam, sinh ngày 24-6-2014) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tô Thị Bích L cấp dưỡng nuôi cháu Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014), mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng (một triệu đồng), cấp dưỡng vào ngày 07 hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào ngày 07 tháng 3 năm 2023, cấp dưỡng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định pháp luật.
2.3 Sau khi ly hôn, chị Tô Thị Bích L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Danh Hoàng Lâm (nam, sinh ngày 24-6-2014), anh Danh R cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Chị Tô Thị Bích L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Tô Thị Bích L tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Tô Thị Bích L tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Tô Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005211 ngày 27 tháng 10 năm 2022, chị Tô Thị Bích L phải nộp thêm 300.000 đông án phí sơ thẩm.
6. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - UBND xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |