vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Đi…

*. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng K được ly hôn với anh Trần Văn T. *. Về quan hệ con chung: Giao chị Nguyễn Thị Hồng K được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Nhật K, sinh ngày 01/7/2019 đến đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Nguyễn Thị Hồng Khuyên - Trần Văn Thắng"
  • Tòa quyết gì? * Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Đi…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2023
V/v: Ly hôn & tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngạch và ông Phan Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 15/6/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 26/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2023/QĐST-DS, ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng K, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1994; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Hồng K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng K kết hôn với anh Trần Văn T vào ngày 13 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn thì chị K và anh T sinh sống tại xã H, sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, anh T cờ bạc lô đề, chị K can ngăn thì anh T đánh đập. Nên năm 2020, chị Nguyễn Thị Hồng K đưa con về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại xã Y, huyện H anh T thì đi làm ăn ở các tỉnh miền Nam. Chị K đã tìm nhiều biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Hiện nay chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị Hồng K được ly hôn anh Trần Văn T để đảm bảo cuộc sống tự do mỗi người.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị K và anh T sinh được một người con chung tên Trần Nguyễn Nhật K, sinh ngày 01/7/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay anh T không trực tiếp nuôi dưỡng con Nhật K mà con sống cùng với chị K. Nên để tránh sự đảo lộn việc học tập và cuộc sống của cháu Trần Nguyễn Nhật K, chị K đề nghị Tòa án giao cháu Trần Nguyễn Nhật K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn nhau. Về cấp dưỡng: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình sống chung chị Nguyễn Thị Hồng K và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Trần Văn T: Sau khi Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án và các giấy triệu tập nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để làm việc. Vì vậy, Tòa án tiếp tục tống đạt các văn bản tiếp theo gồm: Giấy triệu tập; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nơi anh T cư trú ở thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Trần Văn T đi làm ăn xa ở miền Nam nên không ký nhận bất kỳ văn bản nào; đồng thời đã tống đạt các văn bản trên cho cha anh T và đã thông tin đầy đủ cho anh T, ngày 05/4/2023 Tòa án làm việc với Công an xã Hkiểm tra dữ liệu quốc gia về cư trú thì anh T là công dân ở đây thường xuyền đi về tại xã. Tòa án nhân dân huyện H và Ủy ban nhân dân xã H đã tiến hành lập biên bản về việc anh T không có mặt tại nhà để nhận văn bản đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Anh Trần Văn T không có ý kiến gì và cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập cũng như các thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa ngày 25/5/2023 anh T không có mặt nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa, đồng thời quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt cho anh T và tiến hành niêm yết theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay lần thứ hai bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay thấy rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng K chấp hành đúng pháp luật, còn bị đơn anh Trần Văn T không thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự đó là không có mặt tại Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập; không ký nhận vào các biên bản giao nhận văn bản tố tụng; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa đều không có lý do là chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS. Việc Tòa án tiếp tục xét xử và ra bản án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

- Về điều luật: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng K được ly hôn anh Trần Văn T.

+ Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Trần Nguyễn Nhật K, sinh ngày 01/7/2019 cho chị Nguyễn Thị Hồng K được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, vì từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu đang ở cùng chị K. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị K. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng K và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Hồng K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T. Anh T có nơi cư trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh do vậy xác định đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng K đã có bản khai, bản lấy lời khai trình bày quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tố tụng và cũng đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra, giao nộp tiếp cận chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, còn bị đơn anh Trần Văn T không ký nhận vào biên bản giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh T cố tình vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng K kết hôn với anh Trần Văn T vào ngày 13/02/2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị K và anh T sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T hay chơi bài bạc, lô đề không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị K đã nhiều lần can ngăn nhưng bị anh T đánh đập. Chị K đã tìm nhiều biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Hiện tại chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị K được ly hôn anh Trần Văn T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không đến Tòa án để làm việc cũng như không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa; đồng thời cũng không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Bên cạnh đó để có cơ sở giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân vợ chồng tại nơi cư trú, đã được Ban cán sự thôn P và Ủy ban nhân dân xã H khẳng định: Sau khi kết hôn thì chị K và anh T cư trú tại xã H đến năm 2020, chị K mang theo con về sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở xã Y. Đời sống chung giữa anh T và chị K mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, nguyên nhân chính là do anh T cờ bạc lô đề, anh T có hành vi đánh đạp chị K. Hiện nay vợ chồng đã ly thân nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn về sống đoàn tụ với nhau nữa, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều đó khẳng định mục đích cuộc hôn nhân chị K và anh T không đạt được và tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Hồng K tha thiết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị K được ly hôn anh Trần Văn T.

Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Quá trình sống chung giữa chị Nguyễn Thị Hồng K và anh Trần Văn T có 01 người con chung tên Trần Nguyễn Nhật K, sinh ngày 01/7/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu K đang sống cùng với chị K, sau khi vợ chồng ly hôn nhau chị K đề nghị Tòa án giao cháu K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, để tránh sự đảo lộn việc học tập và cuộc sống của cháu. Đồng thời Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Y về việc hiện tại cháu K đang sinh sống cùng với ai, thì được chính quyền địa phương cung cấp hiện tại cháu K vẫn đang sống cùng chị K và theo học tại trường mầm non xã Y. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì nên giao cháu K cho chị K nuôi dưỡng bởi vì từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì con do chị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 58, Điều 81, các khoản 1, 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cháu Trần Nguyễn Nhật K cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, chị K đảm bảo đủ điều kiện vật chất để nuôi con, vì từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì chị K đủ đảm bảo mọi điều kiện để nuôi cháu K, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận ý kiến của chị K, do đó anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng K và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung và không có ai vay nợ anh, chị tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng K phải nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

* Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016, xử:

*. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng K được ly hôn với anh Trần Văn T.

*. Về quan hệ con chung: Giao chị Nguyễn Thị Hồng K được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Nhật K, sinh ngày 01/7/2019 đến đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị K.

Anh Trần Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh T không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoạc gây ảnh hưởng xấu đến con.

*. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Hồng K phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị K đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0007892, ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

*. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/6/2023). Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ