- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Mai Th- Nguyễn Tấn Phong E "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Mai Th và ông Nguyễn Tấn Phong E.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Bé
2. Ông Đinh Ngọc Dình
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mai Th, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 348/7, ấp 7, xã V, huyện C, tỉnh L (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Phong E, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 372/2, ấp P, xã Th, huyện C, tỉnh L (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mai Th trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn Phong E chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C, tỉnh L vào ngày 21/01/2015.
Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2022 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phong E.
Về nuôi con chung: Bà và ông Phong E có với nhau hai người con chung tên Nguyễn Ngọc Ngân Tr sinh ngày 13/9/2015 và Nguyễn Huỳnh Ngọc H sinh ngày 01/10/2017, hiện hai con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, bà không yêu cầu ông Phong E cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Ông Nguyễn Tấn Phong E là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông E vắng mặt nên không có trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Mai Th có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phong E, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Tấn Phong E cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Phong E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Phong E.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mai Th và ông Nguyễn Tấn Phong E tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C, tỉnh L theo giấy đăng ký kết hôn số 07/2015 ngày 21/01/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Phong E là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời trình bày của bà Th, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau nên đã không còn tình cảm. Ông Phong E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, thể hiện việc ông Phong E không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Phong E đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai đương sự không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Th yêu cầu ly hôn với ông Phong E là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th.
Về nuôi con chung: Bà Th và ông Phong E có hai người con chung tên là Nguyễn Ngọc Ngân Tr sinh ngày 13/9/2015 và Nguyễn Huỳnh Ngọc H sinh ngày 01/10/2017.
Khi ly hôn, bà Th yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, hiện tại hai con chung do bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để không ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cũng như nguyện vọng của con chung tên Ngân Tr mong muốn được sống cùng với mẹ. Do đó, cần giao hai con chung tên Nguyễn Ngọc Ngân Tr và Nguyễn Huỳnh Ngọc H cho bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Bà Thảo không yêu cầu ông Phong E thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mai Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Mai Th và ông Nguyễn Tấn Phong E.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Ngọc Ngân Tr sinh ngày 13/9/2015 và Nguyễn Huỳnh Ngọc H sinh ngày 01/10/2017 cho bà Huỳnh Thị Mai Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Tấn Phong E không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mai Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008228 ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh LA; - VKSND huyện; - Chi cục THA dân sự huyện; - Các đương sự; - UBND xã Th, huyện C, tỉnh L; - Lưu (hồ sơ, án văn). | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ái Duy |