vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 14/12/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa anh Trần Công T và chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A).

Án phí: Anh Trần Công T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc theo biên lai số 0004139 ngày 09 tháng 10 năm 2023. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị M có quyền kháng cáo đối với bản án này trong thời hạn 15 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "anh T ly hôn chị M bị mất tích"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa anh Trần Công T và chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-12-2023
“V/v anh T ly hôn chị M”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Nguyễn Hữu Tỉnh

Bà Trần Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Công T, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: thôn 8, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A), sinh năm 1979.

Nơi cư trú cuối cùng: thôn 8, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.

Anh T vắng mặt, chị M vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Toà án, nguyên đơn anh Trần Công T trình bày: Anh và chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A) đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 3 năm 2002 tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh T, chị M chung sống hạnh phúc đến năm 2018 từ năm 2019 do bất đồng quan điểm sống nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung. Khoảng tháng 12 năm 2019 chị M đã bỏ đi biệt tích từ đó đến nay không về nữa. Anh T đã nhiều lần liên lạc nhưng không có kết quả, hiện nay chị M ở đâu làm gì anh T không rõ. Đầu năm 2023 anh T làm thủ tục tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A) và được Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A) theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 29 tháng 6 năm 2023. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn với chị M để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh T, chị M có một con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2003. Hiện nay cháu N đã trưởng thành tự lập được nên anh T không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai nhận giữa anh và chị M không có.

Bị đơn là chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A) đã đi khỏi địa phương từ tháng 12 năm 2019 và Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A) theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 29 tháng 6 năm 2023. Đến thời điểm này chị M vẫn vắng mặt tại địa phương. Tòa án thụ lý vụ án và đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng và Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nhưng đến ngày mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị M vẫn vắng mặt. Vì vậy không có tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều tuân thủ, thực hiện và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị xử cho ly hôn giữa anh Trần Công T và chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A).

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Trần Công T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Trần Thị M vắng mặt nhưng đã được Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc tuyên bố mất tích. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị M.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh T, chị M kết hôn với nhau tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 3 năm 2002 tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T xác nhận đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị M để ổn định cuộc sống. Xét thấy, chị M đã bỏ đi từ năm 2019 đến nay không chung sống với anh T và cũng không có mặt tại nơi cư trú, không có tin tức gì kể từ khi Tòa án tuyên bố chị M mất tích cho đến nay thể hiện vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân giữa anh T và chị M không đạt được. Anh T và chị M đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc giải quyết cho anh T đề nghị ly hôn với chị M là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh T, chị M có một con chung tên là Trần Thị Bích N, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2003. Hiện nay cháu N đã trưởng thành tự lập được nên Toà án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai nhận giữa anh và chị M không có. Tuy nhiên, chị M không có bản tự khai, không có quan điểm về vấn đề này nên Tòa án chưa xem xét giải quyết. Nếu các bên đương sự có tài sản chung trong quá trình chung sống thì có quyền đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác sau khi ly hôn.

Về án phí dân sự: Anh T có nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm

Vĩ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

1. Xử cho ly hôn giữa anh Trần Công T và chị Trần Thị M (tên gọi khác Trần Ngọc A).

2. Án phí: Anh Trần Công T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc theo biên lai số 0004139 ngày 09 tháng 10 năm 2023.

3. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị M có quyền kháng cáo đối với bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ