- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 16/2023/DS-ST Ngày: 25/4/2023 V/v tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Bà Trần Thị Mỹ Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-DS, ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: K2, thị trấn CN, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Ông Phạm L T, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: K1, thị trấn CN, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/01/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L trình bày:
Vào năm 2021 và 2022, ông Phạm L T có mở 02 dây hụi, do ông T làm đầu thảo, bà L có tham gia 02 dây hụi.
- Dây hụi thứ nhất: Khui ngày 06/10/2021 (nhằm ngày 01/9/2021 âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 17 phần, bà L tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho đầu thảo là 1.500.000 đồng, hụi có lãi, ai đưa ra mức lãi cao nhất (nhưng không quá 1.000.000 đồng) thì được lĩnh hụi. Đối với dây hụi này bà L góp được 15 kỳ với số tiền là 2.000.000 đồng/kỳ, tổng cộng bà L góp được 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), đến kỳ khui hụi thứ 16 (ngày 01/11/2022 âm lịch) thì ông T ngưng không khui hụi nữa, do ông T nói tuyên bố bể hụi.
- Dây hụi thứ hai: khui ngày 08/01/2022 (nhằm ngày 06/12/2021 âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 20 phần, bà L tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho đầu thảo là 1.500.000 đồng, hụi có lãi, ai đưa ra mức lãi cao nhất (nhưng không quá 1.000.000 đồng) thì được lĩnh hụi. Đối với dây hụi này bà L đóng được 12 kỳ với số tiền là 2.000.000 đồng/kỳ, tổng cộng bà L đóng được 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng), đến kỳ khui hụi thứ 13 (ngày 06/11/2022 âm lịch) thì ông T ngưng không khui hụi nữa, do ông T nói tuyên bố bể hụi.
Tổng cộng tiền hụi bà L đã góp của 02 dây hụi trên là 54.000.000 đồng. Sau khi ông T tuyên bố bể hụi đến nay, ông T không trả lại tiền hụi bà L đã góp.
Tại đơn khởi kiện ngày 10/01/2023 bà L yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền là 81.000.000 đồng, trong đó bao gồm tiền vốn hụi là 54.000.000 đồng, tiền lãi hụi là 27.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà L xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả tiền lãi hụi: Bà L không yêu cầu ông T phải trả tiền lãi hụi là 27.000.000 đồng.
Nay nguyên đơn bà L chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm L T trả cho bà L tiền vốn hụi đã góp là 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Phạm L T trình bày:
Nguyên vào năm 2021 và 2022, ông T có mở 02 dây hụi, do ôngT làm đầu thảo, bà L có tham gia 02 dây hụi.
- Dây hụi thứ nhất: Khui ngày 06/10/2021 (nhằm ngày 01/9/2021 âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 17 phần, bà L tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho đầu thảo là 1.500.000 đồng, hụi có lãi, ai đưa ra mức lãi cao nhất (nhưng không quá 1.000.000 đồng) thì được lĩnh hụi. Đối với dây hụi này bà L đóng được 15 kỳ với số tiền là 2.000.000 đồng/kỳ, tổng cộng bà L đóng được 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), đến chưa tới ngày khui hụi kỳ thứ 16 thì ông T ngưng không khui hụi nữa do có nhiều hụi viên sau khi hốt hụi xong không có đóng hụi lại nên ông T không có khả năng choàng hụi.
- Dây hụi thứ hai: khui ngày 08/01/2022 (nhằm ngày 06/12/2021 âm lịch), loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 20 phần, bà L tham gia 01 phần, tiền hoa hồng cho đầu thảo là 1.500.000 đồng, hụi có lãi, ai đưa ra mức lãi cao nhất (nhưng không quá 1.000.000 đồng) thì được lĩnh hụi. Đối với dây hụi này bà L đóng được 12 kỳ với số tiền là 2.000.000 đồng/kỳ, tổng cộng bà L đóng được 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng), đến chưa tới ngày khui hụi kỳ thứ 13 thì ông T ngưng không khui hụi nữa do có nhiều hụi viên sau khi hốt hụi xong không có đóng hụi lại nên ông T không có khả năng choàng hụi.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà L, ông T đồng ý trả cho bà L tiền vốn hụi đã góp là 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng), nhưng ông T xin trả dần mỗi tháng là 500.000 đồng, ông T không đồng ý trả một lần.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Các đương sự tranh chấp hợp đồng góp họ (hụi) là tranh chấp hợp đồng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn CN, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông T trả tiền lãi hụi là 27.000.000 đồng và tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên việc rút lại yêu cầu này. Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu rút của nguyên đơn.
Về nội dung:
Ngày 06/10/2021 và ngày 08/01/2022 ông T có tổ chức mở 02 dây hụi tiền 3.000.000 đồng, mỗi tháng mở hụi 01 lần, hụi có lãi, 02 dây hụi này bà L có tham gia 02 phần; dây hụi ngày 06/10/2021 bà L góp được 15 kỳ với số tiền là 30.000.000 đồng, đến kỳ thứ 16 thì ông T không mở hụi nữa do ông T tuyên bố bể hụi; đối với dây hụi ngày 08/01/2022 bà L đã góp hụi được 12 kỳ với số tiền là 24.000.000 đồng, đến kỳ thứ 13 thì ông T không mở hụi nữa do ông T tuyên bố bể hụi; tổng cộng bà L đã góp của 02 dây hụi là 54.000.000 đồng là có thật. Bởi, sự việc này các đương sự đều thừa nhận, ông T cũng đồng ý trả cho bà L số tiền hụi bà L đã góp là 54.000.000 đồng.
Xét, ý kiến của ông T xin trả dần mỗi tháng là 500.000 đồng, không đồng ý trả một lần, vì ông T cho rằng do có nhiều hụi viên sau khi hốt hụi xong thì không có góp hụi lại nên dẫn đến ông T không có khả năng choàng hụi, lời trình bày của ông T là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, bà L không đồng ý, đồng thời theo quy định tại khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, quy định về: Nghĩa vụ của chủ họ là: “Nộp thay phần họ của thành viên nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ”.
Tữ những nhận định trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu bị đơn ông Phạm L T có nghĩa vụ trả cho bà L tiền vốn hụi đã góp là 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 15; 18; 23 và Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Phạm L T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 54.000.000 đồng x 5% = 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 15; 18; 23 và Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
Buộc bị đơn ông Phạm L T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L số tiền hụi là 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc: yêu cầu ông Phạm L T trả tiền lãi hụi là 27.000.000 đồng.
3. Về án phí: Buộc bị đơn Phạm L T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.025.000 đồng (Hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007554, ngày 11/01/2023 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Mang Thit.́
T hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |