- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Duy L, Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Duy L, Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày 28/10/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải, ông Ngô Quang Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 04/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HS ngày 13/10/2022 đối với:
1.Bị cáo:
1.1 Tạ Duy L, sinh năm 1990; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn N và bà Đỗ Thị T; Có vợ là Lê Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án: Tại Bản án số 94 ngày 15/12/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt L 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội trộm cắp tài sản. L chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 19/8/2022, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo Lệnh tạm giam của Công an, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại phiên tòa.
1.2 Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị C; Có vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố An Giải, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 07/6/2022 tại khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Tạ Duy L và Nguyễn Văn T đã lén lút nhổ cây mai vàng trước cửa nhà chị Nguyễn Thị H thì bị người dân phát hiện. Ngoài ra, L còn tự thú về hành vi cùng T trộm cắp 2 cây Mộc Hương vào ngày 05/6/2022 tại cửa nhà chị Nguyễn Thị H.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 21/6/2022 của Hội đồng định giá thành phố Từ Sơn kết luận: 01 cây Mai vàng, T trực xoắn, chu vi gốc 23cm, cao 1,4m, có 18 tán, tuổi đời 10 năm, có giá trị 1.500.000 đồng; 01 cây Mộc chu vi gốc 21cm, cao 1,7m, tán lá rộng 1m, tuổi đời 12 năm, có giá trị 4.000.000 đồng; 01 cây Mộc chu vi gốc 20cm, cao 1,6m, tán lá rộng 80cm, tuổi đời 12 năm, có giá trị 3.000.000 đồng; Tổng giá trị tài sản là 8.500.000 đồng.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 176/CT-VKSTS ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Tạ Duy L và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bị cáo L và T đã thực hiện 2 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố Từ Sơn, trong đó ngày 07/6/2022 cây Mai vàng của chị Nguyễn Thị H giá trị 1.500.000 đồng, 02 cây Mộc của chị Nguyễn Thị H giá trị 7.000.000 đồng. L đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án và tự khai ra vụ trộm khác.
Bị hại là chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Duy L, Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo L từ 08 đến 11 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án T hiện: Vào ngày 07/6/2022, ngày 05/6/2022 tại khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê và khu phố An Giải, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Tạ Duy L và Nguyễn Văn T đã có hành vi trộm cắp cây Mai vàng của chị Nguyễn Thị H giá trị 1.500.000 đồng, 02 cây Mộc của chị Nguyễn Thị H giá trị 7.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Tạ Duy L và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý Hng mang trong quần chúng nhân dân. Nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo L và T thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công, bàn bạc nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
Bị cáo L đã bị xét xử trộm cắp tài sản, chưa được xóa án lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng tặng tái phạm và phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo đã đầu thú khai nhận ra hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/6/2022 và tự thú về hành vi trộm cắp tài sản ngày 05/6/2022. Trong thời gian tại ngoại chờ xét xử, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đã bị Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội trộm cắp tài sản và bị bắt tạm giam. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bố bị cáo tham gia kháng chiến và bị nhiễm chất độc hóa học. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo L ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo T không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng lượng kHn H của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Văn T có hành vi cùng Tạ Duy L trộm cắp cây Mai vàng trị giá 1.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị H ngày 07/6/2022, T chưa có tiền, tiền sự về các tội chiếm đoạt nên Công an thành phố Từ Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án có việc L và T bị một số người dân đánh gây thương tích. Quá trình điều tra, chưa xác định được đối tượng đánh L và T. Bản thân L và T không biết ai là người gây thương tích cho mình, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu Cơ quan điều tra giải quyết về việc bị thương tích.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Tạ Duy L, Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Tạ Duy L 14 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo T cho UBND xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có T quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo L và T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Từ Sơn; - Công an thành phố Từ Sơn; - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị H Thanh |