- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Xuân L - Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Xuân L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày 25 tháng 4 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quế.
2. Ông Ngô Sỹ Lượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/HSST-QĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Xuân L - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 22 tháng 12 năm 1993, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc Đ, sinh năm 1972 và bà Lê Thị N, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/12/2021 đến ngày 15/12/2021, được tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989.
Trú tại: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- Người chứng kiến:
Anh Hồ Ngọc Đ, sinh năm 1972.
Trú tại: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An (có mặt).
Ông Hoàng Xuân Q, sinh năm 1966.
Trú tại: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Vì muốn có pháo để sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán năm 2022 nên Hồ Xuân L đã lên mạng xã hội Facebook để tìm mua pháo. Sau đó, Hồ Xuân L đã tìm và hỏi mua được của một người trên mạng (L không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này) 02 (hai) gói ni lông trong suốt, mỗi gói có kích thước (20x28)cm, bên trong mỗi gói có chứa 100 quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm đều gắn dây dẫn màu xanh dài 02cm với số tiền 1.400.000 đồng. Sau khi mua được số pháo trên thì Hồ Xuân L đưa về nhà cất giấu.
Theo lời khai của Hồ Xuân L: Vì có quen biết với Nguyễn Văn T và biết Nguyễn Văn T có pháo để bán nên Hồ Xuân L có đã sử dụng tài khoản Facebook “L Còi” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Nguyễn T” của Nguyễn Văn T để trao đổi, mua bán pháo. Sau khi thỏa thuận xong thì Hồ Xuân L đã mua pháo của T 03 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: vào khoảng cuối tháng 11/2021, (Lộc không nhớ rõ ngày, tháng), Nguyễn Văn T đã đưa đến nhà bán cho Hồ Xuân L 02 hộp hình hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có chứa 49 quả hình trụ tròn được liên kết với nhau với giá 2.800.000 đồng (hai triệu, tám trăm nghìn đồng).
Lần thứ hai: vào ngày 04/12/2021, Hồ Xuân L đến nhà Nguyễn Văn T mua 01 hộp hình hộp chữ nhật hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có chứa 49 quả hình trụ tròn được liên kết với nhau với giá 1.400.000 đồng (một triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Lần thứ ba: ngày 05/12/2021, Nguyễn Văn T đưa đến nhà Hồ Xuân L và bán cho L 02 hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong có chứa 36 quả hình trụ tròn được liên kết với nhau với giá 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng).
Sau khi mua được pháo thì đến ngày 06/12/2021, vì sợ cất giấu pháo ở nhà sẽ bị phát hiện nên Hồ Xuân L đã lấy 01 gói ni lông trong suốt, mỗi gói có kích thước (20x28)cm, bên trong mỗi gói có chứa 100 quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm có gắn một đoạn dây màu xanh dài 02cm và 03 hộp hình hộp chữ nhật hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có chứa 49 quả hình trụ tròn được liên kết với nhau; 02 hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong có chứa 36 quả hình trụ tròn được liên kết với nhau bỏ vào trong 01 thùng cát tông có kích thước (22x37x26,5)cm để đưa đi cất giấu để sử dụng vào dịp Tết nguyên đán; còn 01 gói ni lông trong suốt, mỗi gói có kích thước (20x28)cm, bên trong mỗi gói có chứa 100 quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm có gắn một đoạn dây màu xanh dài 02cm thì Hồ Xuân L để ở nhà để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 50 phút ngày 06/12/2021, Hồ Xuân L đưa thùng cát tông chứa pháo nêu trên đi ra đường để gọi xe taxi đưa pháo đi cất giấu. Khi đến khu vực xóm P, xã T, Thị xã T thì bị Tổ công tác Công an thị xã T phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, đưa về trụ sở Công an Thị xã T để xử lý.
Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Xuân L, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T phát hiện tại phòng ngủ, phía bên phải giường của Hồ Xuân L có 01 gói ni lông trong suốt có kích thước (20x28)cm, bên trong có chứa 100 (một trăm) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm đều gắn dây dẫn màu xanh dài 02cm. Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 06/12/2021, của cơ quan CSĐT Công an thị xã T xác định:
+ 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thuớc là (14x14x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 36 (ba mươi sáu) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có tổng khối lượng là 2,67kg (hai phẩy sáu mươi bảy kilogam) sau khi đã loại bỏ bao bì.
+ 03 (ba) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 49 (bốn mươi chín) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có tổng khối lượng là 4,99kg (bốn phẩy chín mươi chín kilogam) sau khi đã loại bỏ bao bì.
+ 01 (một) túi ni lông trong suốt, mỗi gói có kích thước (20x28) cm bên trong chứa 100 quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,49kg (không phẩy bốn mươi chín kilogam) sau khi đã loại bỏ bao bì.
+ 01 (một) túi ni lông trong suốt, kích thước (20x28) cm bên trong chứa 100 quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp có tổng khối lượng là 0,47kg (không phẩy bốn mươi bảy kilogam) sau khi đã loại bỏ bao bì.
Tổng khối lượng các loại pháo do Hồ Xuân L tàng trữ là 8,62kg (tám phẩy sáu mươi hai kilogam).
Tại Kết luận giám định số 400/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 14/12/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 04 (bốn) mẫu vật thu giữ của Hồ Xuân L gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Hồ Xuân L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 - BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 điều 191; các điểm i, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 - BLHS: Xử phạt bị cáo Hồ Xuân L từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tuyên tịch thu, tiêu huỷ 01 thùng cát tông có kích thước (22x37x26,5)cm bên trong có chứa: 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật có kích thuớc là (14x14x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 36 (ba mươi sáu) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng là 1,35kg (một phẩy ba mươi lăm kilogam); 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 49 (bốn mươi chín) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có tổng khối lượng là 3,32kg (ba phẩy ba mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,442kg (không phẩy bốn trăm bốn mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,423kg (không phẩy bốn trăm hai mươi ba kilogam) đã được niêm phong lại bằng 01 thùng cát tông có kích thước (15x17x23)cm, (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định) thu giữ của Hồ Xuân L.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu hóa giá, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen gắn sim số 0967822793, số imei: 355349086509488 đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Xuân L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen gắn sim số 0979183637, số imei: 359402080755825 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.
Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 - BLHS; khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Truy thu từ anh Nguyễn Văn T số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 06/12/2021 và Biên bản khám xét tại nhà ông Hồ Ngọc Đ lập hồi 16 giờ 40 phút ngày 06/12/2021, đều tại xóm P, xã T, thị xã T cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng, cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã xác định được khoảng 14 giờ 00 phút ngày 06/12/2021, tại xóm P, xã T, thị xã T, Công an thị xã T đã bắt quả tang Hồ Xuân L có hành vi tàng trữ 8,15kg pháo nổ, khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo thu giữ 0,47kg pháo nổ tại phòng ngủ của bị cáo. Như vậy tổng khối lượng pháo nổ bị cáo tàng trữ là 8,62kg (tám phẩy sáu hai ki lô gam), nên hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 - BLHS như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bất bình trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được việc tàng trữ pháo nổ để sử dụng là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng với thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Mặt khác bị cáo là người khuyết tật nặng, đang được hưởng trợ cấp xã hội mỗi tháng 405.000 đồng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, p, s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú rõ ràng nên chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 - BLHS như lời đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa cũng đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người khuyết tật, nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Gồm 01 thùng cát tông có kích thước (22x37x26,5)cm bên trong có chứa: 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật có kích thuớc là (14x14x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 36 (ba mươi sáu) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng là 1,35kg (một phẩy ba mươi lăm kilogam); 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 49 (bốn mươi chín) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có tổng khối lượng là 3,32kg (ba phẩy ba mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,442kg (không phẩy bốn trăm bốn mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,423kg (không phẩy bốn trăm hai mươi ba kilogam) đã được niêm phong lại bằng 01 thùng cát tông có kích thước (15x17x23)cm thu giữ của Hồ Xuân L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định) cần tịch thu, tiêu huỷ theo các điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen gắn sim số 0967822793, số imei: 355349086509488 đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Xuân L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen gắn sim số 0979183637, số imei: 359402080755825 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T. Xét đây là phương tiện do bị cáo và Nguyễn Văn T sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.
Biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định được Nguyễn Văn T bán pháo nổ cho bị cáo Hồ Xuân L hai lần vào các ngày 04 và 05/12/2021, với tổng số tiền 3.700.000 đồng. Xét đây là số tiền do Nguyễn Văn T thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần truy thu từ Nguyễn Văn T số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 - BLTTHS
Trong vụ án này bị cáo khai nhận: Bị cáo đã mua của Nguyễn Văn T ba lần pháo: lần thứ nhất là vào khoảng cuối tháng 11/2021 (L không nhớ rõ ngày, tháng cụ thể), lần thứ hai là vào ngày 04/12/2021, lần thứ 3 là vào ngày 05/12/2021. Quá trình điều tra xác định tổng khối lượng pháo mà bị cáo đã mua của T trong từng ngày đều chưa đủ 6kg. Đồng thời, trong quá trình điều tra Nguyễn Văn T chỉ thừa nhận bán cho bị cáo 03 hộp pháo vào ngày 04/12/2021 và ngày 05/12/2021 với tổng số tiền là 3.700.000 đồng. Bị cáo có thừa nhận mua pháo của T và quá trình trích sao dữ liệu tin nhắn “Messengger” của Facebook trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus của bị cáo thể hiện: vào ngày 27/11/2021 giữa bị cáo và T có nhắn tin về việc giao dịch mua pháo với nhau nhưng không rõ ràng cụ thể. Quá trình trích sao dữ liệu tin nhắn trong thư mục “Messengger” của Facebook có nick “Nguyễn T” với Nick “L Còi” và trích sao nội dung tin nhắn trong thư mục “Tin nhắn” của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus của Nguyễn Văn T: thì không thấy nội dung tin nhắn nào liên quan đến việc trao đổi, thỏa thuận mua bán pháo giữa T và và bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Nguyễn Văn T đã bán pháo cho bị cáo vào khoảng cuối tháng 11/2021 như bị cáo trình bày. Trong quá trình điều tra xác định số pháo Nguyễn Văn T đã bán cho bị cáo dưới 06kg, nhân thân Nguyễn Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy hành vi của Nguyễn Văn T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” nên Chủ tịch UBND thị xã T ra xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T về hành vi "buôn bán pháo nổ", do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với người đã bán 02 (hai) gói ni lông trong suốt, bên trong mỗi gói có chứa 100 quả pháo với số tiền 1.400.000 đồng cho bị cáo trên mạng xã hội Facebook, do không xác định được lai lịch nên không đủ cơ sở để xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 - BLHS:
Xử phạt bị cáo Hồ Xuân L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Giao bị cáo Hồ Xuân L về cho UBND xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 - Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu hóa giá, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen gắn sim số 0967822793, số imei: 355349086509488 đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Xuân L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen gắn sim số 0979183637, số imei: 359402080755825 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thùng cát tông có kích thước (22x37x26,5)cm bên trong có chứa: 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật có kích thuớc là (14x14x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 36 (ba mươi sáu) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng là 1,35kg (một phẩy ba mươi lăm kilogam); 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (16,5x16,5x9,5) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, có in các dòng chữ nước ngoài, bên trong là 49 (bốn mươi chín) quả hình trụ tròn liên kết với nhau có tổng khối lượng là 3,32kg (ba phẩy ba mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,442kg (không phẩy bốn trăm bốn mươi hai kilogam); 90 (chín mươi) quả hình cầu nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 2,5cm, đều có dây dẫn màu xanh dài 02cm có tổng khối lượng là 0,423kg (không phẩy bốn trăm hai mươi ba kilogam) đã được niêm phong lại bằng 01 thùng cát tông có kích thước (15x17x23)cm thu giữ của Hồ Xuân L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 3 năm 2022 giữa Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Truy thu từ anh Nguyễn Văn T số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hồ Xuân L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có QL & NV liên quan; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |