vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 10-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Ông Phạm Công Hạ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2022/HSST-QĐ ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Vi Văn H, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1994 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn P, sinh năm 1964 và con bà Hồ Thị H, sinh năm 1962; Chưa có vợ con; Tiền án: Bản án số 67/2014/HSST ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2020; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/10/2021 đến ngày 25/10/2021 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại:

Anh Đinh Khắc S sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Phạm Ngọc H sinh năm 1988; Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; Địa chỉ tạm trú: Thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Mùa A C sinh năm 1996; Địa chỉ thường trú: Xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Địa chỉ tạm trú: Thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 43 phút ngày 05/8/2021, Vi Văn H điều khiển xe mô tô biển số 37H1- 405.38 đi qua khu vực thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, quan sát thấy nhà anh Đinh Khắc S không khóa cổng, cửa chính khóa, không có ai ở nhà nên Vi Văn H đã nảy sinh ý định vào nhà anh Đinh Khắc S chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Vi Văn H mở cổng đi vào trong sân, lấy chiếc tô vít trong cốp xe phá khóa cửa chính rồi đi vào trong nhà. Vi Văn H lấy 01 chiếc ti vi nhãn hiệu SamSung 45 inch và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7pro của nhà anh Đinh Khắc S mang ra để ở võng xe. Sau đó, Vi Văn H mang bán cho người không quen biết tại khu vực nội thành Hải Phòng được số tiền 500.000 đồng, Vi Văn H đã ăn tiêu sử dụng hết số tiền này.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/9/2021, Vi Văn H điều khiển xe mô tô biển số 37D1-852.83 đi qua khu nhà trọ của anh Đinh Văn K tại thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng thấy cổng nhà trọ mở, các phòng trọ đều khóa cửa, không có người trông coi nên Vi Văn H đã nảy sinh ý định vào trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Vi Văn H đi xe vào trong khu trọ, lấy tô vít trong cốp xe đến cạy khóa cửa phòng trọ số 02 của anh Phạm Ngọc H lấy 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro mang ra để ở võng xe mô tô rồi tiếp tục quay lại dùng tô vít cạy khóa cửa phòng trọ số 08 của anh Mùa A C lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4 và số tiền 400.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt những tài sản trên, Vi Văn H mang bán cho người không quen biết bên khu vực nội thành Hải Phòng được số tiền 500.000 đồng, Vi Văn H đã ăn tiêu sử dụng hết số tiền này.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 86 ngày 16/10/2021 và số 90 ngày 08/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu SamSung 45 inch trị giá 7.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J7pro trị giá 1.200.000 đồng; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro trị giá 7.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J4 trị giá 900.000 đồng. Tại bản Kết luận giám định số 476 ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 01 tập tin video chứa hình ảnh Vi Văn H thực hiện hành vi phá khóa cửa phòng trọ số 02, 08 không bị cắt ghép, chỉnh sửa. Chiếc tô vít sau khi dùng xong, Vi Văn H đã vất tại khu vực sông xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng hiện không thu giữ được. Ngày 15/10/2021, Vi Văn H đã đến cơ quan Công an đầu thú.

Bị hại là các anh Đinh Khắc S, Phạm Ngọc H, Mùa A C khai phù hợp với nội dung nêu trên. Sau khi các anh Đinh Khắc S, Phạm Ngọc H, Mùa A C phát hiện bị kẻ gian đột nhập vào nhà trộm cắp các tài sản, các anh đã làm đơn trình báo cơ quan Công an. Các anh Đinh Khắc S, Phạm Ngọc H, Mùa A C đã được Vi Văn H bồi thường đầy đủ, các anh không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Vi Văn H.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 USB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ án đã niêm phong được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vi Văn H về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, bị cáo ăn năn hối hận xin lỗi bị hại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn H với mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng không có. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận khoảng 10 giờ 43 phút ngày 05/8/2021 bị cáo Vi Văn H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc ti vi nhãn hiệu SamSung 45 inch trị giá 7.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7pro trị giá 1.200.000 đồng của anh Đinh Khắc S tại khu vực thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng và khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/9/2021 bị cáo Vi Văn H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro trị giá 7.000.000 đồng của anh Phạm Ngọc H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4 trị giá 900.000 đồng và số tiền 400.000 đồng của anh Mùa A C tại thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tổng trị giá tài sản bị cáo Vi Văn H đã chiếm đoạt 17.000.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo Vi Văn H đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nguy hiểm đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an xã hội.

Ngày 05/8/2021 bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có trị giá 8.700.000 đồng và ngày 27/9/2021 bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có trị giá 8.300.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo đã bị kết án theo bản án số 67/2014/HSST ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2020 đến nay chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo đã tái phạm, do đó bị cáo có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, có cha đẻ là người có công với nhà nước, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã bị kết án và chưa được xoá án tích nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về mức hình phạt áp dụng: Phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về những vấn đề khác:

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không có.

Trong vụ án này: Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 37H1-405.38 là của anh Vi Văn H1, địa chỉ thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, xe mô tô biển số 37D1-852.83 là của chị Vi Thị N, địa chỉ xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho Vi Văn H mượn sử dụng đi lại, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Vi Văn H đã bán những tài sản trộm cắp được cho người không quen biết tại nội thành Hải Phòng, tài liệu điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người mua tài sản nên không có cơ sở để điều tra.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vi Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 16/10/2021.

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vi Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ