- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày 18 – 01 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Dân.
Bà Trương Ánh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Lo - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983 tại Cà Mau; nơi thường trú: khóm 3, phường C, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: khóm 6, phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: chạy xe Honda khách; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị C; vợ: Phạm Thị Ngọc Đ; con: 02 người; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng ngày 23/3/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010, chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí vào ngày 02/9/2009; bị tạm giữ từ ngày 23/4/2021 đến ngày 29/4/2021 thì bị bắt, tạm giam cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Bà Đặng Thị Đ1, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp 6, xã An X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: mua bán (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 19/4/2021, Nguyễn Hoàng A điều khiển xe mô tô mang biển số kiểm soát 69M1-094.33 từ nhà trọ ra hướng đường Nguyễn Trãi, phường 9, thành phố Cà Mau thì phát hiện bà Đặng Thị Đ1 trên cổ có đeo sợi dây chuyền đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69B1-406.08 chở bà Trần Hồng T1 chạy về hướng xã An X, Hoàng A nảy sinh ý định giật sợi dây chuyền trên bán lấy tiền trả nợ nên điều khiển xe chạy theo phía sau. Khi đến khu vực khóm 3, phường T, Hoàng A thấy đường vắng người qua lại nên điều khiển xe vượt lên bên trái của bà Đ1 giả vờ hỏi “Chị ơi cho hỏi thăm đường”, vừa hỏi vừa cho xe ép sát vào xe của bà Đ1 rồi dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền đang đeo trên cổ của bà Đ1, khi giật xong thì xe bị mất lái làm cho cả hai xe ngã xuống đường, dây chuyền cũng rơi xuống lộ. Lúc này, Hoàng A lượm sợi dây chuyền cầm trong tay và dựng xe bỏ chạy về hướng xã An X tẩu thoát, còn bà T1 và bà Đ1 do xe ngã làm cho hai người bị thương tích được người dân đưa đi cấp cứu nhưng trước khi đi, bà T1 nhặt được mặt dây chuyền vàng có hình bông mai mà Hoàng A giật làm rơi lại nên giao nộp cho Cơ quan điều tra. Sau đó, Công an thành phố Cà Mau đến hiện trường thu giữ các đồ vật gồm: 01 nón kết màu đen xám, trên nón có hình đầu động vật giống con cáo; 01 áo mưa màu đỏ viền màu xanh, trên áo mưa có dòng chữ CIRCLE; 01 phích nước màu xám, có dòng chữ MAXCOOL và 01 miếng nhựa màu đen.
Ngày 20/4/2021, Hoàng A mang sợi dây chuyền đến tiệm vàng Quốc An 2 bán, chủ tiệm vàng nghi ngờ là vàng giả nên mang vào thử thì dây chuyền chuyển sang màu trắng, chủ tiệm hỏi Hoàng A bán cho ai thì Hoàng A nói dối bán cho dì, chủ tiệm kêu chở dì đến và chụp hình Hoàng A lại. Lúc này, Hoàng A nói về chở dì ra rồi bỏ đi để sợi dây chuyền lại.
Ngày 23/4/2021, Hoàng A giao nộp cho Cơ quan điều tra đồ vật gồm: 01 áo khoác màu đen, 01 nón bảo hiểm màu hồng, 01 quần Jean màu xanh đen, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ; 01 xe mô tô biển kiểm soát số 69M1-094.33; 01 điện thoại di động hiệu OPPO có sim số 0949.711335; 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím bấm màu đen và tiền Việt Nam là 299.000 đồng.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 23/4/2021 của Cơ quan điều tra đối với Hoàng A thể hiện: 01 vết trầy ở đầu gối phải kích thước 4cm x 2cm, 01 vết trầy ở mu bàn chân phải kích thước 1,5cm x 0,5cm; 01 vết trầy ở mu bàn chân gần mắt cá phải kích thước 2cm x 0,5cm. Các vết trầy này, do lúc cướp giật xe bị ngã nên té xuống mặt lộ gây ra.
Tại biên bản kiểm tra dấu vết trên xe mô tô biển số 69M1-094.33 ngày 23/4/2021, của Cơ quan điều tra thể hiện: 01 vết trầy xước thắng tay bên phải của xe có kích thước 1 x 1,5cm; 01 vết trầy xước tại đèn nhal bên phải của xe có kích thước 7 x 3cm; 01 vết trầy xước của xe tại dè chắn bùn trước kích thước 9 x 3cm; 01 vết trầy xước tại óp bửng bên phải của xe có kích thước 12 x 2cm; 01 vết trầy xước gác chân bên phải của xe có kích thước 5 x5cm, gác chân bị cong vẹo. Các dấu vết này là do khi giật dây chuyền va quẹt với xe của người phụ nữ gây ra.
Ngày 28/4/2021, Cơ quan điều tra trích xuất Hoàng A đến tiệm vàng Quốc An 2 và thu giữ sợi dây chuyền trên.
Tại biên bản kiểm định chủng loại, chất lượng sợi dây chuyền và mặt dây chuyền ngày 28/4/2021 của Hội Mỹ nghệ Kim Hoàn Cà Mau xác định: mặt dây chuyền là vàng 18K, trọng lượng 08 phân 01 ly; dây chuyền là bạc, trọng lượng 4 chỉ, 4 phân, 3 ly.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 77/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận: thời điểm tháng 4/2021, 01 (một) sợi dây chuyền bằng bạc trọng lượng 4,43 chỉ trị giá 290.800 đồng và 01 (một) mặt dây chuyền là vàng 18K, trọng lượng 0,81 chỉ trị giá 3.159.000 đồng. Tổng cộng là 3.449.800 đồng.
Tại bản kết luận Pháp y về thương tích số: 236/TgT-21 ngày 03/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau, kết luận thương tích của bà Đặng Thị Đ1 như sau: 01 mảng sẹo mặt trước trong gối trái, kích thước 12cm x 08cm. Tỷ lệ 03%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; 01 mảng sẹo 1/3 giữa mặt trước cẳng chân trái, kích thước 04cm x 2,5cm, tỷ lệ 02%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; 01 mảng seo xương bàn I mu bàn chân trái, kích thước 02cm x 01cm, tỷ lệ 02%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; đứt không hoàn toàn dây chằng chéo trước gối trái chưa được phẫu thuật, tỷ lệ 23%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; gãy 1/3 giữa xương mác chân trái, tỷ lệ 0,5%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 32%.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng A thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đối với bà Đặng Thị Đ1 có yêu cầu Hoàng A bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 113.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 218/CT-VKS ngày 26/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm b khoản 3 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Cướp giật tài sản". Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù; Về vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các tài sản gồm: 01 áo khoác màu đen; 01 nón bảo hiểm màu hồng; 01 quần dài Jean, màu xanh đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đỏ; 01 nón kết màu đen xám, trên nón có hình đầu động vật giống con cáo; 01 áo mưa màu đỏ, viền màu xanh, trên áo mưa có dòng chữ CIRCLE; 01 phích nước màu xám, có dòng chữ MAXCOOL và 01 miếng nhựa màu đen. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng các Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 83.000.000 đồng. Đối với bà Trần Hồng T1, do thương tích nhẹ nên quá trình điều tra, bà T1 không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật, không yêu cầu bồi thường. Vì vậy, không đề cập xem xét xử lý là phù hợp.
- Bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo khai nhận quá trình điều tra, truy tố không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai trong quá trình điều tra, truy tố do tự nguyện bị cáo khai và đã nhận được thông báo về kết luận định giá tài sản, kết luận giám định cùng các quyết định khác của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nên không có ý kiền gì. Đồng thời, bị cáo thừa nhận hành vi thực hiện Cáo trạng nêu là đúng nên thống nhất nội dung Cáo trạng truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa và đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại các khoản với số tiền 83.000.000 đồng mà không yêu cầu Hội đồng xét xử điều chỉnh lại, nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại trình bày ý kiến: Cáo trạng truy tố và lời khai của bị cáo trình bày tại phiên tòa là đúng với diễn biến sự việc mà bị cáo đã gây ra cho bị hại. Hiện bị hại đã nhận lại sợi dây chuyền nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản. Riêng về thương tích của bị hại, trong quá trình điều tra bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 113.000.000 đồng trong số tiền này, bị hại có tạm tính số tiền 30.000.000 đồng để đi phẫu thuật dây chằng đầu gối. Nay bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản gồm: Chi phí điều trị theo toa vé, chi phí ăn uống của người bệnh và người nuôi bệnh, tiền xe đi lại khám chữa bệnh tại Cà Mau, thành phố Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền các khoản là 83.000.000 đồng, do bị hại chưa đi phẫu thuật dây chằng đầu gối nên chưa yêu cầu khoản chi phí phát sinh này, khi nào bị hại đi điều trị sẽ yêu cầu bị cáo bồi thường sau. Vì vậy, bị hại rút lại yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền chi phí tạm tính đi phẫu thuật dây chằng nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên có cơ sở để xác định vào khoảng 18 giờ ngày 19/4/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 69M1-094.33 chạy theo sau xe của bị hại đến khu vực khóm 3, phường T, thành phố Cà Mau và thực hiện hành vi giật lấy sợi dây chuyền đang đeo trên cổ của bị hại có giá trị là 3.449.800 đồng để bán lấy tiền trả nợ, hậu quả làm xe của bị hại ngã gây ra thương tích cho bị hại với tỷ lệ 32%.
Hành vi của bị cáo dùng xe mô tô để thực hiện việc giật lấy tài sản của bị hại là rất nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền phục vụ cho nhu cầu cá nhân, bị cáo không kể đến tính mạng, sức khỏe của bị hại đã điều khiển xe mô tô áp sát xe của bị hại để giật lấy tài sản và sau khi có được tài sản, bị cáo nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát nhằm tránh khỏi sự truy hô, vây bắt của bị hại cũng như quần chúng nhân dân điều đó thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng và ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, hậu quả làm cho bị hại bị thương tật với tỷ lệ 32%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 171 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo là có căn cứ.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp.
Với đánh giá tại các đoạn [1], [2], [3] và [4] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo tuy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu bởi vào năm 2009, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Thời Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù cũng về tội “Cướp giật tài sản” đến nay đã được xóa án tích. Thế nhưng, khi trở về địa phương sống hòa nhập với cộng đồng, bị cáo không biết cải sữa, lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội nên cần xử phạt thật nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên chấp nhận.
Về vật chứng thu giữ gồm: 01 áo khoác màu đen; 01 nón bảo hiểm màu hồng; 01 quần dài Jean, màu xanh đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đỏ; 01 nón kết màu đen xám, trên nón có hình đầu động vật giống con cáo; 01 áo mưa màu đỏ, viền màu xanh, trên áo mưa có dòng chữ CIRCLE; 01 phích nước màu xám, có dòng chữ MAXCOOL và 01 miếng nhựa màu đen. Đây là tài sản của bị cáo, hiện không còn giá trị sử dụng nên bị cáo không yêu cầu nhận lại. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với các tài sản khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xử lý, giải quyết trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không đề cặp xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị cáo đồng ý bồi thường các khoản thiệt hại theo yêu cầu của bị hại với số tiền 83.000.000 đồng mà không đặt ra yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét điều chỉnh lại, nên chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo. Riêng chi phí phẫu thuật dây chằng đầu gối, do bị hại chưa phẫu thuật nên chưa có căn cứ buộc bị cáo bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử tách yêu cầu này ra, khi nào bị hại đi điều trị, phẫu thuật thương tật trên và có toa vé kèm theo thì bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại ở vụ kiện dân sự khác.
Đối với bà Trần Hồng T1 là người đi cùng và ngồi phía sau xe của bị hại, tuy có bị thương tích nhưng quá trình điều tra, bà T1 cho rằng thương tích nhẹ, không có nhập viện điều trị nên không yêu cầu giám định, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, không xem xét đưa vào tham gia tố tụng là phù hợp.
Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2021.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các tài sản gồm: 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu hồng; 01 (một) quần dài Jean, màu xanh đen; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đỏ; 01 (một) nón kết màu đen xám, trên nón có hình đầu động vật giống con cáo; 01 (một) áo mưa màu đỏ, viền màu xanh, trên áo mưa có dòng chữ CIRCLE; 01 (một) phích nước màu xám, có dòng chữ MAXCOOL và 01 (một) miếng nhựa màu đen.
- Về trách nhiệm dân sự:
Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Hoàng A bồi thường cho bà Đặng Thị Đ1 các khoản với số tiền là 83.000.000 đồng (tám mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp).
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu số tiền là 4.150.000 đồng (bốn triệu một trăm năm chục nghìn đồng, chưa nộp).
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - VKSND Tp.Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an Tp.Cà Mau; - Cơ quan THA hình sự Tp.Cà Mau; - Cơ quan thi hành án dân sự Tp.Cà Mau; - Nhà tạm giữ CATp.Cà Mau; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Hoài Ân |