vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hìnhậnsự: Tuyên bố các bị cáo:

Nguyễn Văn Kh, Nguyễn M Đ, Nguyễn Văn Kh, Nguyễn Văn H phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; HuỳnhậnVăn Ch (Mười) phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; [2]… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh + Đp - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hìnhậnsự: Tuyên bố các bị cáo:
  • Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hìnhậnsự; Điều 51 Bộ luật Hìnhậnsự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hìnhậnsự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 11/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thànhậnphần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn PH

Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà

Bà Lê ThanhậnTrang

Bà Lê Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Kiểm sát viên;

Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hìnhậnsự thụ lý số: 05/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2022, theo Quyết địnhậnđưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Kh, sinhậnnăm 1976 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp TTĐ, xã TH, huyện TP, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: mua bán; trìnhậnđộ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ngh, sinhậnnăm 1956 và bà ĐinhậnThị B, sinhậnnăm 1956 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Th, sinhậnnăm 1976; con: có 05 người con, lớn nhất sinhậnnăm 1996, nhỏ nhất sinhậnnăm 2008; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 29/11/2019 cho đến nay; có mặt.

2. HuỳnhậnVăn Ch (M), sinhậnnăm 1987 tại tỉnhậnTiền Giang; nơi cư trú: ấp HTh, xã HNg, huyện CL, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm hồ; trìnhậnđộ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông HuỳnhậnVăn B, sinhậnnăm 1950 và bà Nguyễn Thị K, sinhậnnăm 1949; vợ: Nguyễn Thị ThanhậnTh, sinhậnnăm 1987; con: có 02 người con, lớn sinhậnnăm 2010, nhỏ sinhậnnăm 2013; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 29/11/2019 cho đến nay; có mặt.

3. Nguyễn M Đ (TM), sinhậnnăm 1963 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số E, ấp BT, xã BP, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: tài xế; trìnhậnđộ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hội (đã chết); tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

4. Nguyễn Văn H, sinhậnnăm 1966 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp TT A, xã TH, huyện TP, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trìnhậnđộ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phan Thị L (đã chết); vợ: Hà Kim Ph, sinhậnnăm 1974; con: có 03 người con, lớn nhất sinhậnnăm 1998, nhỏ nhất sinhậnnăm 2003; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 29/11/2019 cho đến nay; có mặt.

5. Nguyễn Văn Kh, sinhậnnăm 1962 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số M, ấp TH, xã TH, huyện TP, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trìnhậnđộ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Kh (đã chết) và bà Võ Thị G (đã chết); vợ: Trần Thị D, sinhậnnăm 1960; con: có 04 người con, lớn nhất sinhậnnăm 1982, nhỏ nhất sinhậnnăm 1990; tiền án: không; tiền sự: không; về nhân thân: ngày 07/4/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 02 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 38/2010/HSPT, chấp hànhậnxong Bản án ngày 07/3/2011; ngày 08/7/2013 bị Tòa án nhân dân tthành phố Cần Thơ xử phạt 04 năm tù về “Tội tổ chức đánhậnbạc” tại Bản án số: 77/2013/HSPT, chấp hànhậnxong Bản án ngày 31/8/2015; bị tạm giam từ ngày 08/10/2021; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Kh: Ông Trần Nhật Long H là Luật sư - Văn phòng luật sư HN thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Lê Văn L là Luật sư - Văn phòng luật sư CL thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo HuỳnhậnVăn Ch: Ông Võ ThànhậnĐ là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn M Đ: Ông Trương Văn Tr là Luật sư - Văn phòng luật sư TVT thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Kh: Bà Trần Thị Cẩm T là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre; (có mặt).

- Bị hại:

1. Ông Lê Công Th, sinhậnnăm 1968; nơi cư trú: S, đường CG, Phường H, Quận PN, Tthành phố Hồ Chí M; (Vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bà Võ Thị ThanhậnH, sinhậnnăm 1971; nơi cư trú: Số B, đường HBT, Phường B, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; (Có mặt ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, xin vắng mặt ở các phần tiếp theo của phiên tòa).

3. Ông Phan Văn M, sinhậnnăm 1977; nơi cư trú: Số A, Khu phố M, Phường B, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; (Vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi Ngh vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinhậnnăm 1967; nơi cư trú: ấp PT, xã TP, huyện CT, tỉnh Bến Tre; (có mặt).

2. Ông Lê SanhậnHồng T, sinhậnnăm 1982; nơi cư trú: Số B, đường ĐHM, Phường M, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Ng, sinhậnnăm 1976; nơi cư trú: khu phố MT, Phường B, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; (Vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Ái Ngh, sinhậnnăm 1981; nơi cư trú: Ấp M, xã SĐ, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre; (Vắng mặt).

3. AnhậnNguyễn Hải Đ, sinhậnnăm 1995; nơi cư trú: ấp TTĐ, xã TH, huyện TP, tỉnh Bến Tre; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2019, Nguyễn Văn Kh gặp HuỳnhậnVăn Ch tại quán cà phê XM ở Phường S, tthành phố BT, tỉnh Bến Tre, Ch nói cho Kh biết có thể làm giấy tờ giả đem lừa người khác lấy tiền được, sau đó Ch cho Kh số điện thoại nói khi nào cần thì điện cho Ch. Do Kh làm nghề môi giới mua bán đất nên được Nguyễn M Đ, sinhậnnăm 1969, ở ấp MH 1, xã TC, huyện HC, Tthành phố Hồ Chí M, nhờ Kh bán thửa đất số 465, tờ bản đồ số 25 với diện tích là 3.577,1 m2 và đưa cho Kh bản photo giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, Kh nảy sinhậný địnhậnlàm giả giấy này để lừa lấy tiền tiêu xài. Khoảng đầu tháng 03/2019, Kh rủ Nguyễn M Đ làm giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất giả đem lừa lấy tiền tiêu xài thì Đ đồng ý. Đ biết Phan Văn M, sinhậnnăm 1977, ở số 261A, Khu phố 1, Phường 7, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, có nhu cầu cho vay tiền thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nói cho Kh biết. Kh điện thoại kêu Ch làm giả 01 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 01 giấy chứng M nhân dân, 01 sổ hộ khẩu và giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân cùng mang tên Nguyễn M Đ. Kh thỏa thuận với Ch nếu làm giấy tờ giả lừa lấy tiền được thì trả Ch số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, nếu không được thì trả Ch số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng, Ch đồng ý, kêu Kh cung cấp ảnhậnvà chứng minh nhân dân của người đóng giả Nguyễn M Đ. Sau đó, Kh rủ Nguyễn Văn Kh đóng giả người tên Nguyễn M Đ, kêu Kh đưa ảnhậnvà giấy chứng M nhân dân để làm giả đi lừa người khác lấy tiền, nếu lấy được số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng thì Kh cho Kh 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, Kh đồng ý và lên tthành phố Bến Tre chụp ảnhậnđưa cho Kh, sau đó Kh đưa cho Ch bản photo giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của Nguyễn M Đ, ảnhậncủa Kh để Ch làm giả giấy tờ này. Khoảng 02 ngày sau, Ch giao bộ giấy tờ giả cho Kh tại quán cà phê Hoa Sứ ở Ấp 1, xã Sơn Đông, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và nhậnsố tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Kh kêu Đ tìm người để lừa vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, sau đó Đ điện thoại thỏa thuận với Nguyễn Thị Ng nhờ tìm người cho vay tiền. Ngày 26/4/2019, Kh đóng giả chủ đất tên Nguyễn M Đ cùng Đ hẹn gặp Ng tại quán cà phê Hoa Sứ, sau khi Ng xem bộ giấy tờ giả do Kh đưa, Ng giới thiệu Kh với Nguyễn Tấn Dũng (Phúc) nhưng ông Dũng không đồng ý cho vay. Kh đề nghị Ng tìm người khác, Ng gặp Phan Văn M nói có người cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, sau đó Ng đưa M đi xem đất thì M đồng ý cho vay với điều kiện phải ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho M đứng tên, tất cả đồng ý và hẹn buổi chiều đến Văn phòng công chứng Tín Hữu ở ấp An Thuận A, xã Mỹ ThạnhậnAn, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, để làm hợp đồng công chứng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Ng cùng M đến Văn phòng công chứng Tín Hữu nhưng không gặp Kh, Đ và Kh nên Ng điện thoại cho Đ, sau đó Đ kêu Nguyễn Hải Đ đem hồ sơ đất giả đến đưa cho Ng để làm hợp đồng công chứng trước. Văn phòng công chứng Tín Hữu kêu Ng đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thànhậnchứng thực sao y bản chínhậngiấy chứng nhậnquyền sử dụng đất tên Nguyễn M Đ thì phát hiện là giấy giả nên lập biên bản tạm giữ và trìnhậnbáo Công an.

Khoảng đầu tháng 5/2019, Kh tiếp tục nảy sinhậný địnhậnđem giấy tờ giả lừa người khác lấy tiền tiêu xài. Kh biết Nguyễn Thị Tuyết H, sinhậnnăm 1967, ở ấp PT, xã TP, huyện CT, tỉnh Bến Tre, quen với Lê Công Th, sinhậnnăm 1968, ở số S, đường CG, Phường H, quận PN, Tthành phố Hồ Chí M, có cho vay tiền thế chấp bằng giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, Kh nói với H có người tên Nguyễn M Đ muốn vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng thế chấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, sau đó kêu Đ đem bản photo giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của Đ đưa cho H xem. H điện thoại cho Th nói có Nguyễn M Đ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền thì Th đồng ý cho vay số tiền 600 triệu đồng, lãi suất là 05%/tháng, trong 03 tháng đến 06 tháng thì trả lại đủ số tiền vay. H nói lại cho Kh biết về số tiền và lãi suất vay, tháng đầu tiên trả 10%, gồm 05% là tiền lãi trả cho Th, 05% còn lại là tiền công giới thiệu của H, Kh đồng ý. Để Th tin tưởng đưa tiền, Kh rủ Nguyễn Văn H đóng giả Nguyễn M Đ và hứa chia cho H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng khi lấy được tiền, H đồng ý. H chụp ảnhậnvà đưa giấy chứng M nhân dân cho Kh, sau đó Kh kêu Ch làm giả 01 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất và 01 giấy chứng M nhân dân tên Nguyễn M Đ do H đóng giả, sau khi làm xong Ch đưa cho Kh bộ giấy tờ đất giả như yêu cầu và nhậnsố tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng.

Ngày 09/5/2019, Kh, Đ, H cùng với H và Th đến Văn phòng công chứng LHD thuộc ấp AH, xã AH, huyện CT, tỉnh Bến Tre, làm hợp đồng vay tiền thế chấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng thửa đất số 465, tờ bản đồ số 25 với diện tích là 3.577,1 m2 của Nguyễn M Đ. Khi Lê SanhậnHồng T (nhân viên Văn phòng công chứng Lê Hùng Dũng) làm thủ tục công chứng xong, H giao giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất giả cùng hồ sơ chuyển nhượng cho Th và nhậnsố tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng. Do Kh đã căn dặn trước đó nên H đưa lại cho H số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, gồm 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng tiền lãi tháng đầu tiên của Th và 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng tiền công giới thiệu của H, đưa cho Kh số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, Kh đưa cho T số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng, gồm trả phí công chứng 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng và cho T 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng tiền công. H đưa lại cho Th số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, H chia cho Đ số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng như thỏa thuận và cất giữ 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Sau khi rời khỏi Văn phòng công chứng, H đưa cho Kh số tiền còn lại là 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng, Kh chia cho H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, chia cho Ch số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, số còn lại Kh cất giữ tiêu xài cá nhân hết. Ngày 21/5/2019, Th đến Chi nhánhậnVăn phòng Đ ký đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phát hiện giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của Kh đưa là giả nên tố giác hànhậnvi phạm tội của Kh cùng các đồng phạm.

Trong khi Cơ quan điều tra xác M thu thập chứng cứ, tháng 6/2019 Kh kêu Ch làm giả 01 giấy chứng nhậnĐ ký xe ô tô biển số 71A-023.63 mang tên của Kh, Ch đồng ý làm giả với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng. Khoảng 01 tuần sau thì Ch giao giấy chứng nhậnĐ ký xe ô tô giả mang tên của Kh và nhậnsố tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng. Xe ô tô biển số 71A-023.63 Kh mua của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thànhậnviên khách sạn vận chuyển Quang Vinh, do Nguyễn Ái Ngh là cổ đông của công ty đại diện bán với số tiền 380.000.000 (ba trăm tám mươi triệu) đồng. Do xe đang thế chấp tại Ngân hàng nên 02 bên thỏa thuận Kh chỉ trả số tiền 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng và có Ngh vụ hàng tháng phải nộp Ngân hàng số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng, đến khi hết nợ thì làm thủ tục Đ ký sang tên. Ngh giao xe ô tô, giấy chứng nhậnkiểm địnhậnvà bản photo giấy Đ ký xe ô tô cho Kh. Do cần tiền tiêu xài nên ngày 16/9/2019, Kh đem xe ô tô biển số 71A-023.63 cùng giấy Đ ký giả mang tên của Kh đến gặp Võ Thị Thanhậnhậnở số 21B, đường Hai Bà Trưng, Phường 3, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, lừa vay thế chấp số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, lãi suất 10%/tháng, thời gian trả từ ngày 16/9/2019 đến ngày 16/11/2019, sau khi nhậntiền Kh đưa H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đóng lãi tháng đầu tiên, còn lại tiêu xài hết. Đến ngày 10/10/2019, Kh tiếp tục thỏa thuận vay của H số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, Kh trả H số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng tiền nợ vay, còn 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng tiêu xài hết, sau đó Kh mượn lại xe ô tô biển số 71A-023.63 để làm pH tiện đi lại. Do Kh không đóng tiền Ngân hàng như thỏa thuận nên Ngh gặp Kh trả lại số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng, lấy lại xe ô tô và bản photo giấy Đ ký xe. Biết được sự việc nên H đến Công an tố giác hànhậnvi phạm tội của Kh.

Ngoài ra, trong khoảng tháng 3/2019, Đ có nhậncủa nhiều người có nhu cầu làm giấy phép lái xe giả (không nhớ họ, tên) số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng, sau đó Đ kêu Ch làm giả các loại giấy phép lái xe này, Cơ quan điều tra chỉ thu giữ được 01 giấy phép lái xe hạng A2 mang tên Pham Công Nam và 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Trần Ng Linh. Đ đưa Ch số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng để Ch làm giả các giấy phép lái xe theo yêu cầu của Đ nhưng chưa đưa thì bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Văn Kh:

+ 01 Giấy bán xe ngày 31/9/2019 tên Nguyễn Văn Kh.

+ 01 Hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất, bên bán tên Phạm Văn Tươi (gọi tắt là bên A), bên mua tên Nguyễn Văn Kh (gọi tắt là bên B).

+ 01 bản photo trích lục bản đồ địa chínhậnthửa đất 127, tờ bản đồ số 17, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (thu khi khám xét khẩn cấp).

+ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số IMEI 1: 357345080924457, IMEI 2: 357325085522456 cùng 02 sim điện thoại 0913599096 và 0963356319, mật khẩu “12345”, được niêm phong.

+ 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng đen, mặt lưng có số seri: S/N: R58KB2F6DAR; số IMEI 1: 352987104128428, IMEI 2: 352988104128426 cùng 02 sim điện thoại 0799670527 và 0944654038, được niêm phong.

- Thu giữ của HuỳnhậnVăn Ch: 01 túi giấy màu trắng, phía ngoài túi có chữ “Kodak, 14/2 Trần Quốc T, P.4, TP.Bến Tre”. Bên trong túi giấy trên có các đồ vật, tài liệu sau:

+ 01 bản phô tô giấy chứng M nhân số 321385596, họ tên Phạm Công Nam, sinhậnngày 07/06/1990, Đ ký thường trú: số 602C, Khu phố 1, phường Phú KH, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, cấp ngày 12/08/2015.

+ 02 ảnhậngiống nhau kích thước 04 x 06cm.

+ 04 ảnhậngiống nhau kích thước 03 x 04cm.

+ 01 giấy phép lái xe số 791185013469, tên Trần Ng Linh, sinhậnngày 27/04/198, Quốc tịch: Việt Nam, nơi cư trú: số 93/2B ấp 4, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tthành phố Hồ Chí M, cấp ngày 15/3/2018, Hạng A1, chất liệu PET (thu giữ khi khám xét khẩn cấp).

+ 01 điện thoại hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng, trầy xước nhiều nơi, không kiểm tra tìnhậntrạng hoạt động của máy và bên trong máy, được niêm phong (bị can tự giao nộp).

- Thu giữ của Nguyễn Văn H:

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cùng sim số 0327934669 và 0832037089, số seri 1: 354893081195349, số seri 2: 354893081195356, được niêm phong.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cùng sim số 0845466698, được niêm phong.

- Thu giữ của Nguyễn M Đ: 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen cùng 02 sim số 0949495090 và 0773177990, được niêm phong.

- Thu giữ của Nguyễn Văn Kh: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, mặt lưng có chữ “OPPO CE07000” cùng sim số 0918100279, được niêm phong.

- 01 Giấy chứng nhậnĐ ký xe ô tô số 0035145 mang tên Nguyễn Văn Kh cấp ngày 28/12/2015, do Võ Thị Thanhậnhậngiao nộp.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A2, số 860185206273 cấp cho Phạm Công Nam đề ngày 15/3/2018, do Phạm Công Nam giao nộp.

- Chi nhánhậnVăn phòng Đ ký đất đai huyện Châu Thànhậngiao nộp:

+ 02 Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, cấp cho người có thông tin như sau: ông Nguyễn M Đ, sinhậnnăm 1969, chứng M nhân dân số: 020013056, nơi thường trú: ấp Mỹ Hòa 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Tthành phố Hồ Chí M, số BU089781, số vào sổ cấp giấy chứng nH: CH06469, 01 giấy có ép nhựa và một giấy không ép nhựa.

+ 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bản photo) gồm 04 trang giấy A4.

+ 01 bộ hồ sơ sao lục số 349/SL-CNVPĐKĐĐ ngày 03/05/2019 của Chi nhánhậnVăn phòng Đ ký đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, gồm 20 trang giấy A4 do ông HuỳnhậnVăn Công, phó Giám đốc Chi nhánhậnVăn phòng Đ ký đất huyện Châu Thànhậnký.

+ 01 tờ photo biên nhậntiền ghi ngày 09/5/2019.

+ 01 bản chínhậnbáo cáo số 224/BC-CNCT ngày 21/5/2019 của Chi nhánhậnVăn phòng Đ ký đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, báo cáo về việc có dấu hiệu làm giả Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 465, tờ bản đồ số 25, tại xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

+ 01 bản photo biên bản trao đổi một số nội dung liên quan đến việc giấy chứng nhậnthửa đất số 465, tờ bản đồ số 25, tại xã Tam Phước của Chi nhánhậnvăn phòng Đ ký đất đai huyện Châu Thànhậnngày 26/4/2019.

Tại Bản kết luận giám địnhậnsố 157/2019/GĐTL ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hìnhậnsự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- Phôi giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và hìnhậndấu tròn đóng dưới mục “TM.Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành. Chủ tịch” cùng mang tên Nguyễn M Đ (ký hiệu Al, A2) nêu tại mục II.1 là phôi giấy và hìnhậndấu giả bằng pH pháp in phun màu.

- Chữ ký mang tên Trần Văn Thọ dưới mục “TM.Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành. Chủ tịch” trên 02 (hai) giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cùng mang tên Nguyễn M Đ (ký hiệu Al, A2) nêu tại mục II.1 so với chữ ký mẫu của Trần Văn Thọ trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1 đến M4) nêu tại mục II.2 không phải do cùng một người ký ra”.

Tại Bản kết luận giám địnhậnsố 39/2019/GĐĐV ngày 14/8/2019 của Phòng kỹ thuật hìnhậnsự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- Dấu vân tay dưới mục “Bên A” Nguyễn M Đ, ký hiệu A1 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với 02 dấu vân tay trên tờ khai chứng M nhân dân mang tên Nguyễn M Đ, sinhậnngày 08/12/1969, số 020013056, ký hiệu M1 (sao y tài liệu lưu trữ tại Phòng PC06 Công an Tthành phố Hồ Chí M, số 108 ngày 08/7/2019) là không phải của cùng một người để lại.

- Dấu vân tay dưới mục “Bên B” Lê Công Th, ký hiệu A2 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với điểm chỉ ngón “Trỏ phải” trên Phiếu thu nhậnthông tin căn cước công dân mang tên Lê Công Th, sinhậnngày 29/11/1968, số CMND/CCCD 079068001066, ký hiệu M2 (sao y tài liệu lưu trữ tại Phòng PC06 Công an Tthành phố Hồ Chí M Hồ Chí M, ngày 13/8/2019) là của cùng một người để lại.

- Dấu vân tay dưới mục “Bên A” Nguyễn M Đ ký hiệu A1 và dưới mục “Bên B” Lê Công Th, ký hiệu A2 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải của cùng một người để lại.

Tại Bản kết luận giám địnhậnsố 55/2019/GĐĐV ngày 01/12/2019 của Phòng kỹ thuật hìnhậnsự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Dấu vân tay dưới mục “Bên A” Nguyễn M Đ trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa bên chuyển nhượng (Bên A) ông Nguyễn M Đ, bên nhậnchuyển nhượng (Bên B) ông Lê Công Th, công chứng ngày 09/5/2019 với điểm chỉ ngón “Trỏ phải” trên chỉ bản mang tên Nguyễn Văn H, sinhậnngày 15/10/1966, Đ ký thường trú: ấp ThạnhậnThới A, xã ThạnhậnHải, huyện ThạnhậnPhú, tỉnh Bến Tre, là vân tay của cùng một người.

Tại Bản kết luận giám địnhậnsố 05/2020/GĐTL ngày 21/01/2020 của Phòng kỹ thuật hìnhậnsự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- 01 Giấy phép lái xe số 791185013469, đề cấp ngày 15/03/2018 mang tên Trần Ng Linh, sinhậnngày 27/04/198, nơi cư trú: số 93/2B ấp 4, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tthành phố Hồ Chí M là giấy phép lái xe giả.

- 01 Giấy phép lái xe số 860185206273, đề cấp ngày 15/03/2018 mang tên Phạm Công Nam, sinhậnngày 07/06/1990, nơi cư trú: số 602C Khu phố 1, phường Phú KH tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, là giấy phép lái xe giả.

- 01 Chứng nhậnĐ ký xe ô tô số 003514, đề cấp ngày 28 tháng 12 năm 2015, biển số Đ ký 71A-023.63, mang tên Nguyễn Văn Kh, địa chỉ: số 66/2 ThạnhậnThới Đông, xã ThạnhậnHải, huyện ThạnhậnPhú, tỉnh Bến Tre là chứng nhậnĐ ký xe ô tô giả.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 2/2019 đến tháng 9/2019, Kh đã 03 lần cung cấp tài liệu, hìnhậnảnhậnđể Ch làm giả giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng M nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân và giấy Đ ký xe ô tô, sau đó cùng với Đ, H, Kh sử dụng những giấy tờ giả này lừa Phan Văn M, Lê Công Th và Võ Thị Thanhậnhậnchiếm đoạt tổng số tiền 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng, trong đó: chiếm đoạt của M số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng nhưng chưa chiếm đoạt được, chiếm đoạt của Th số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, chiếm đoạt của H số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Ch đã làm giấy tờ giả và cùng với Kh, Đ, Kh và H lừa đảo Phan Văn M, Lê Công Th chiếm đoạt tổng số tiền 1.600.000.000 (một tỷ sáu trăm triệu) đồng.

Đ 02 lần tham gia cùng với Kh, Ch làm, sử dụng giấy tờ giả lừa chiếm đoạt của Phan Văn M, Lê Công Th số tiền 1.600.000.000 (một tỷ sáu trăm triệu) đồng.

Kh 01 lần cùng với Ch, Kh và Đ làm, sử dụng giấy tờ giả lừa chiếm đoạt của M số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

H 01 lần cùng với Ch, Kh và Đ làm, sử dụng giấy tờ giả lừa chiếm đoạt của Th số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Riêng Ch là người đã làm 12 loại giấy tờ giả để Kh, Đ, H, Kh thực hiện hànhậnvi phạm tội (gồm 02 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 02 giấy chứng M nhân dân, 01 sổ hộ khẩu, 01 giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân, 01 giấy Đ ký xe ô tô và 05 giấy phép lái xe trong đó làm giả cho Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng A2. Cơ quan điều tra chỉ thu giữ được 05 loại giấy tờ giả gồm: 02 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 01 giấy Đ ký xe ô tô, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng A2), thu lợi số tiền 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng.

Quá trìnhậnđiều tra, các bị cáo thật thà khai nhậnhànhậnvi phạm tội phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị can Đ tự nguyện giao nộp số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng; bị can H tác động gia đìnhậngiao nộp số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; bị can Ch tác động vợ là Nguyễn Thị ThanhậnThúy giao nộp số tiền 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng; Lê SanhậnHồng T giao nộp số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng; các vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ đảm bảo quá trìnhậnxét xử và thi hànhậnán.

* Tại Bản cáo trạng số: 08/CT-VKSBT-P1 ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố:

- Nguyễn Văn Kh, Nguyễn M Đ về về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự; “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự;

- HuỳnhậnVăn Ch (Mười) về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự; “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự;

- Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Kh về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự; “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự;

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xin HĐXX giảm nhẹ hìnhậnphạt.

- Bị hại Võ Thị Thanhậnhậncó mặt ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Bị hại H yêu cầu giải quyết phần trách nhiệm dân sự theo đúng quy địnhậnpháp luật. Bị hại H xin vắng mặt ở giai đoạn xét hỏi, tranhậnluận trong vụ án vì con bị hại mới sinhậncon.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre giữ quyền công tố luận tội và tranhậnluận: Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo:

Nguyễn Văn Kh, Nguyễn M Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Kh phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

HuỳnhậnVăn Ch phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

* Về hìnhậnphạt:

1.1 Đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 14 đến 16 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 02 đến 03 năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 03 đến 04 năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự, tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội.

1.2 Đối với bị cáo Nguyễn M Đ

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ từ 06 đến 08 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ từ 03 đến 04 năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ từ 03 đến 04 năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự, tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội.

1.3 Đối với Nguyễn Văn H

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 đến 06 năm năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 đến 02 năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 đến 03 năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự, tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội.

1.4 Đối với Nguyễn Văn Kh:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 09 đến 11 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 01 đến 02 năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 03 đến 04 năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự, tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội.

1.5 Đối với HuỳnhậnVăn Ch:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điêu 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo HuỳnhậnVăn Ch từ 05 đến 07 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo HuỳnhậnVăn Ch từ 03 đến 04 năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự, tổng hợp hìnhậnphạt cả 02 tội.

* Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh bồi thường cho bị hại Võ Thị Thanhậnhậnsố tiền đã chiếm đoạt là 200.000.000 đồng; bị cáo Kh đã trả xong 20.000.000 đồng, còn lại phải tiếp tục bồi thường 180.000.000 đồng;

Trong vụ lừa đảo bị hại Lê Công Th chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng, ghi nhậnbị hại Th không yêu cầu bị cáo Kh bồi thường số tiền 600.000.000 đồng;

Buộc các bị cáo H, Đ, Ch và những người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết H, Lê SanhậnHồng T phải có Ngh vụ nộp trả lại cho bị cáo Kh số tiền mà bị cáo Kh đã chiếm đoạt của bị hại Th chia cho các bị cáo và những người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan, cụ thể:

- Bị cáo H nộp trả lại 20.000.000 đồng. Ghi nhậnbị cáo H đã tự nguyện giao nộp xong 20.000.000 đồng;

- Bị cáo Ch nộp trả lại 17.000.000 đồng. Ghi nhậnbị cáo Ch đã tự nguyện giao nộp số tiền 32.000.000 đồng;

- Bị cáo Đ nộp trả lại 15.000.000 đồng. Ghi nhậnbị cáo Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền 15.000.000 đồng.

- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp trả lại 15.000.000 đồng;

- Buộc anhậnLê SanhậnHồng T nộp trả lại số tiền 3.000.000 đồng. Ghi nhậnanhậnT đã tự nguyện giao nộp xong 3.000.000 đồng;

Do bị cáo Kh còn có Ngh vụ bồi thường cho bị hại H, nên tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 59.000.000 đồng do các bị cáo Ch, H, Đ và anhậnLê SanhậnHồng T đã giao nộp để đảm bảo thi hànhậnán;

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước, gồm:

+ Của bị cáo Kh: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu vàng đen;

+ Của bị cáo Ch: 01 điện thoại hiệu Samsung màu đen;

+ Của bị cáo H: 02 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen;

+ Của bị cáo Đ: 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen cùng 02 sim số 0949495090 và 0773177990;

Đối với bị cáo Ch đã nhậncủa bị cáo Kh 15.000.000 đồng tiền làm giấy tờ giả trong vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Phan Văn M không thành, bị cáo Ch còn nhậntiền làm giấy phép lái xe giả cho nhiều người với số tiền 7.500.000 đồng; nên buộc bị cáo Ch phải giao nộp tổng số tiền 22.500.000 đồng này để sung quỹ Nhà nước;

- Trả lại cho:

+ Bị cáo Kh: 04 sim điện thoại số: 0913599096, 0963356319, 0799670527 và 0944654038;

+ Bị cáo H: 03 sim điện thoại số: 0327934669, 0832037089 và 0845466698;

+ Bị cáo Kh: 01 điện thoại di động hiệu OPPO cùng sim số 0918100279;

- Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án đối với các vật chứng là tài liệu do Cơ quan điều tra thu giữ, đã thể hiện trong Cáo trạng và được đánhậnsố bút lục lưu trong hồ sơ vụ án;

* Về những nội dung khác:

- Đối với Lê Công Th cho vay số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 10%/ tháng đầu tiên (gồm 05% lãi tiền vay của Th và 05% tiền công giới thiệu của bà H); Võ Thị Thanhậnhậncho Kh vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, thời gian từ 10/10/2019 đến 10/11/2019. Ông Th và bà H thu lợi bất chínhậnsố tiền dưới 30.000.000 đồng, chưa lần nào bị xử phạt hànhậnchínhậnvề hànhậnvi này, chưa bị kết án về tội này nên không phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do ông Th và bà H cho vay không cầm cố tài sản nên không bị xử phạt vi phạm hànhậnchínhậntheo quy địnhậntại điểm b khoản 3 Điều 11 của Nghị địnhậnsố: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chínhậnphủ;

- Đối với bị cáo Nguyễn M Đ kêu bị cáo Ch làm giả 04 giấy phép lái xe mô tô thu lợi bất chínhậnsố tiền 2.500.000 đồng, nhưng thấy chưa đủ cơ sở vững chắc nên không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi Ngh vụ liên quan trìnhậnbày phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

- Các bị cáo không tranhậnluận.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Kh, Luật sư Trần Nhật Long Huy phát biểu tranhậnluận: các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn; bị cáo Kh đã thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, bị cáo Kh với bị hại Th đã thỏa thuận giải quyết xong số tiền 600.000.000 đồng, riêng các bị cáo khác phải trả lại cho bị cáo Kh số tiền đã nhậntrong số tiền 600.000.000 đồng; bị cáo Kh có trìnhậnđộ học vấn thấp, hạn chế khả năng nhậnthức, có bác ruột có công với đất nước; thấy rằng việc sử dụng giấy tờ giả để nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên thống nhất quan điểm truy tố bị cáo Kh của Viện kiểm sát. Hànhậnvi chiếm đoạt tiền của bị Hại M là phạm tội chưa Đ, tội phạm chưa hoàn thành, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Kh hìnhậnphạt dưới mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị đối với “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt bị cáo Kh theo mức thấp hơn mức mà Viện kiểm sát đề nghị đối với “Tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Người bào chữa cho bị cáo HuỳnhậnVăn Ch:

+ Luật sư Võ ThànhậnĐược phát biểu tranhậnluận: thống nhất hai tội danhậnmà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Ch về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Ch. Bị cáo đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đây là đồng phạm giản đơn, quá trìnhậnđiều tra và tại phiên Tòa, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thànhậnkhẩn khai báo, đã khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chínhậntrong gia đình, đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc xử phạt bị cáo Ch 03 (ba) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H, Luật sư Lê Văn Ly phát biểu tranhậnluận: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo H về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng quy địnhậncủa pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khung hìnhậnphạt đối với bị cáo H là phù hợp. Bị cáo có công với đất nước, được tặng thưởng Huân cH, có anhậnlà tH binh, có bác là liệt sĩ, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H 04 (bốn) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 01 (một) năm tù “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; 01 (một) năm tù “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn M Đ, Luật sư Trương Văn Trọn tranhậnluận: đồng ý về tội danhận“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đối với bị cáo nên không tranhậnluận. Về tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự cho bị cáo, thấy rằng trong quá trìnhậnđiều tra, truy tố, xét xử bị cáo thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp khắc phục quả số tiền 15.000.000 đồng mà bị cáo đã thu lợi bất chính; bản thân bị cáo tham gia hoàn thànhậnNgh vụ quân sự tại Campuchia, bị cáo lớn tuổi, đang điều trị bệnhậntiểu đường, huyết áp, giảm tĩnhậnmạch chi dưới, rối loạn lipip máu, hoàn cảnhậngia đìnhậnkhó khăn, bị cáo không có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa trước bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đ dưới khung hìnhậnphạt và dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên đối với ba tội danh.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Kh, Luật sư Trần Thị Cẩm Tú phát biểu tranhậnluận: thống nhất về tội danhậnđối với bị cáo Kh, thống nhất về tìnhậntiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự. Bị cáo thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự ý quay về nửa chừng chấm dứt hànhậnvi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ch 09 (chín) năm tù về tội “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 01 năm “Tội làm giả tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; 03 năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Các bị hại, người có quyền lợi Ngh vụ liên quan không tranhậnluận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hìnhậnphạt.

NHẬNĐỊNHẬNCỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranhậntụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhậnđịnhậnnhư sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: về hànhậnvi, quyết địnhậntố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá trìnhậnđiều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trìnhậntự thủ tục quy địnhậncủa Bộ luật Tố tụng hìnhậnsự. Quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa; các bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan, người làm chứng không có khiếu nại về hànhậnvi, quyết địnhậncủa cơ quan tiến hànhậntố tụng, người tiến hànhậntố tụng; tại phiên tòa bị hại Lê Công Th, bị hại Phan Văn M, người có quyền lợi Ngh vụ liên quan Lê SanhậnHồng T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và người làm chứng Nguyễn Thị Ng, Nguyễn Ái Ngh vắng mặt không có lý do, nhưng những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về sự vắng mặt của ông Th, ông M, anhậnT, chị Ng và anhậnNgh, Kiểm sát viên yêu cầu tiếp tục xét xử vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy ông Th, ông M, anhậnT, chị Ng và anhậnNgh đã có lời khai trong quá trìnhậnđiều tra, việc vắng mặt của ông Th, ông M, anhậnT, chị Ng và anhậnNgh không ảnhậnhưởng đến việc xét xử vụ án nên tiếp tục xét xử vụ án phù hợp với quy địnhậntại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hìnhậnsự. Do đó, các hànhậnvi, quyết địnhậntố tụng của cơ quan tiến hànhậntố tụng, người tiến hànhậntố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trìnhậnđiều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng được thu giữ, kết luận giám địnhậnvà các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có cơ sở xác định: trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 9/2019, Nguyễn Văn Kh kêu HuỳnhậnVăn Ch 03 lần làm giả giấy tờ của cơ quan Nhà nước, sau đó cùng với Nguyễn M Đ, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn Kh sử dụng các loại giấy tờ giả này lừa người khác chiếm đoạt tiền. Sau khi có được giấy tờ giả; ngày 26/4/2019, tại Văn phòng công chứng Tín Hữu thuộc ấp An Thuận A, xã Mỹ ThạnhậnAn, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Kh cùng với Đ và Kh sử dụng giấy tờ giả lừa anhậnPhan Văn M để chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng nhưng chưa chiếm đoạt được thì bị phát hiện; đến ngày 09/5/2019, tại Văn phòng công chứng Lê Hùng Dũng thuộc ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Kh tiếp tục cùng với Đ và H sử dụng giấy tờ giả lừa ông Lê Công Th chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng; đến ngày 16/9/2019, tại Khu phố 3, Phường 3, tthành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Kh sử dụng giấy Đ ký xe ô tô giả lừa bà Võ Thị Thanhậnhậnchiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng. Như vậy: Kh chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng; Đ và H đồng phạm với Kh chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng, Đ hưởng lợi số tiền 15.000.000 đồng, H hưởng lợi 20.000.000 đồng; Kh sử dụng giấy tờ giả nhưng chưa chiếm đoạt được tiền; Ch đồng phạm với Kh chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng, đã làm giả 05 loại giấy tờ (gồm 02 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 01 giấy Đ ký xe ô tô, 01 giấy pháp lái xe hạng A1, 01 giấy pháp lái xe hạng A2), thu lợi số tiền 36.000.000 đồng.

[3] Về tội danh:

Các bị cáo là người thànhậnniên, có năng lực trách nhiệm hìnhậnsự, vì mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác đã cùng nhau cố ý dùng thủ đoạn gian dối bằng hìnhậnthức làm giả giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng M nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân độc thân và giấy Đ ký xe ô tô, rồi sử dụng những giấy tờ giả này đem đi cầm cố vay tiền của người khác, làm cho chủ sở hữu tài sản tin tưởng đó là sự thật mà giao tiền để các bị cáo chiếm đoạt. Hànhậnvi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hànhậnchính, sự hoạt động bìnhậnthường và uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Với ý thức, hànhậnvi và hậu quả xảy ra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre đã truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Kh, Nguyễn M Đ về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy địnhậntại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự, “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy địnhậntại điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy địnhậntại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự; HuỳnhậnVăn Ch về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy địnhậntại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy địnhậntại điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự; Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Kh về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy địnhậntại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hìnhậnsự; “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy địnhậntại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy địnhậntại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hìnhậnsự là có căn cứ, đúng quy địnhậncủa pháp luật.

[4] Về thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội; nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hànhậnvi phạm tội; tínhậnchất, mức độ thiệt hại do hànhậnvi phạm tội gây ra:

Trong khoảng tháng 03 đến tháng 05/2019; bị cáo Kh đã bàn bạc với bị cáo Đ và bị cáo Ch làm giả giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng M nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân độc thân để cầm cố nhằm chiếm đoạt đoạt tài sản của người khác. Bị cáo Kh là người chủ mưu, câu kết với bị cáo Ch làm giả giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng M nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân mang tên Nguyễn M Đ; phân công bị cáo Đ tìm người có nhu cầu cầm cố tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản; phân công bị cáo Kh đóng giả Nguyễn M Đ để đứng ra giao dịch cầm cố tài sản với ông Phan Văn M thông qua sự giới thiệu của bà Nguyễn Thị Ng để nhằm chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng của ông M, nhưng bị bà Ng phát hiện giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất giả nên bị cáo Kh và đồng phạm không chiếm đoạt được tiền của ông M; phân công bị cáo H đóng giả Nguyễn M Đ để đứng ra giao dịch cầm cố tài sản với ông Lê Công Th thông qua sự giới thiệu của bà Nguyễn Thị Tuyết H để chiếm đoạt của ông Lê Công Th số tiền 600.000.000 đồng. Ngoài ra; vào khoảng tháng 06/2019, bị cáo Kh yêu cầu bị cáo Ch làm giả giấy Đ ký xe ô tô biển số 71A - 023.63 mang tên Nguyễn Văn Kh; đến tháng 09/2019, bị cáo Kh sử dụng giấy Đ ký xe ô tô biển số 71A - 023.63 mang tên Nguyễn Văn Kh giả để giao dịch cầm cố tài sản cho bà Võ Thị Thanhậnhậnđể chiếm đoạt của bà H số tiền 200.000.000 đồng. Hànhậnvi của bị cáo Kh làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức rồi dùng thủ đoạn gian dối sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hànhậnvi của bị cáo Ch làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức để giúp sức cho bị cáo Kh lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, đã đồng phạm với bị cáo Kh dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hànhậnvi của bị cáo H đưa chứng M nhân dân, làm giả giấy tờ và sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức. Bị cáo Đ sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, đã đồng phạm với bị cáo Kh có thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hànhậnvi của bị cáo Kh đưa chứng M nhân dân cho Kh để làm giả giấy tờ và sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo trong vụ việc lừa đảo đối với bị hại M. Các bị cáo Kh, Ch, Đ, H, Kh cùng lúc phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; Hànhậnvi phạm tội của các bị cáo đã gây hoang mang, lo sợ trong nhân dân, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5] Về nhân thân; tìnhậntiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự:

- Bị cáo Kh: là người chủ mưu, rủ rê, lôi kéo các đồng phạm khác cùng thực hiện tội phạm; đã 03 lần kêu bị cáo Ch làm giả các loại giấy tờ như: 02 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 02 giấy chứng M nhân dân, 01 sổ hộ khẩu, 01 giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân độc thân và 01 giấy Đ ký xe ô tô; cùng với các bị cáo Đ, Kh sử dụng giấy tờ giả lừa Phan Văn M để chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng nhưng không thành; cùng với các bị cáo Đ, H sử dụng giấy tờ giả lừa Lê Công Th chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng; sử dụng giấy Đ ký xe ô tô giả lừa Võ Thị Thanhậnhậnchiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; với vai trò vừa là người rủ rê, vừa là người thực hiện hànhậnvi phạm tội. Tuy nhiên; bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa luôn thànhậnkhẩn khai báo; bị cáo đã tự thỏa thuận giải quyết xong số tiền 600.000.000 đồng với bị hại Th, bị cáo trả cho bị hại H 20.000.000 đồng. Các tìnhậntiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với bị cáo Kh được quy địnhậntại điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 15 (phạm tội chưa Đ) của Bộ luật Hìnhậnsự đối với “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hìnhậnsự đối với “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

- Bị cáo Ch: đồng phạm với bị cáo Kh lừa đảo chiếm đoạt của bị hại M 1.000.000.000 (một tỷ) đồng và chiếm đoạt của bị hại Th số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng; đã làm giả 02 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, 02 giấy chứng M nhân dân, 01 sổ hộ khẩu, 01 giấy xác nhậntìnhậntrạng hôn nhân và 01 giấy Đ ký xe ô tô, hưởng lợi 36.000.000 đồng. Bị cáo phạm tội với vai trò là người thực hànhậnđối với “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và vai trò là người giúp sức đối với “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên; bị cáo không có tìnhậntiết tăng nặng trách nhiệm hìnhậnsự, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa luôn thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động người thân trong gia đìnhậnnộp 32.000.000 đồng để đảm bảo hoàn trả lại cho bị cáo Kh và nộp sung quỹ Nhà nước đối với khoản tiền do thu lợi bất chính, hoàn cảnhậngia đìnhậnkhó khăn, bản thân là lao động chínhậntrong gia đình. Các tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với bị cáo về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy địnhậntại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15 (phạm tội chưa Đ); Điều 54 của Bộ luật Hìnhậnsự, về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy địnhậntại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hìnhậnsự;

- Bị cáo Đ: là đồng phạm với bị cáo Kh về hànhậnvi lừa đảo chiếm đoạt của bị hại M 1.000.000.000 (một tỷ đồng) và của bị hại Th số tiền 600.000.000 đồng. Về nhân thân từng bị kết án về tội đánhậnbạc đã được xóa án tích; có vai trò vừa là người giúp sức vừa là người thực hiện hànhậnvi phạm tội. Tuy nhiên; trong quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa luôn thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp trước số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại, bản thân có tham gia và hoàn thànhậnNgh vụ quân sự, đang điều trị bệnhậntiểu đường, huyết áp, giảm tĩnhậnmạch chi dưới, rối loạn lipip máu, hoàn cảnhậngia đìnhậnkhóa khăn. Các tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với bị cáo về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy địnhậntại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54 của Bộ luật Hìnhậnsự; về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy địnhậntại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hìnhậnsự; Bị cáo bị áp dụng tìnhậntiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hìnhậnsự.

- Bị cáo H: Bị cáo có hànhậnvi làm giả và sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức để lừa đảo trong vụ việc cùng bị cáo Kh phạm tội lừa đảo chiếm đoạt của bị hại Th số tiền 600.000.000 đồng, bị cáo phạm tội với vai trò là người thực hiện hànhậnvi phạm tội. Tuy nhiên; bị cáo không có tìnhậntiết tăng nặng trách nhiệm hìnhậnsự, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa luôn thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động người thân nộp 20.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại, bản thân đã tham gia Ngh vụ quân sự chiến đấu tại chiến trường Campuchia được tặng thưởng Huân cH chiến sĩ vẻ vang và Huân cH chiến công hạng ba. Các tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với bị cáo về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy địnhậntại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hìnhậnsự; về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy địnhậntại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hìnhậnsự;

- Bị cáo Kh: về nhân thân từng bị kết án về “Tội trộm cắp tài sản” và “Tội tổ chức đánhậnbạc” nhưng đã được xóa án tích; phạm tội với vai trò là người thực hành. Tuy nhiên; trong quá trìnhậnđiều tra và tại phiên tòa luôn thànhậnkhẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đìnhậncó hoàn cảnhậnkhó khăn, là lao động chínhậntrong gia đình, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Các tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với bị cáo về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy địnhậntại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15 (phạm tội chưa Đ) của Bộ luật Hìnhậnsự; về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy địnhậntại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hìnhậnsự.

Qua xem xét tínhậnchất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hànhậnvi phạm tội, hậu quả do các bị cáo gây ra, nhân thân và các tìnhậntiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự đối với các bị cáo; xét thấy hànhậnvi phạm tội của các bị cáo cần phải áp dụng hìnhậnphạt tù tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất địnhậnmới đủ sức răn đe và phòng ngừa Ch.

Ý kiến luật sư bào chữa cho bị cáo Kh, đề nghị cho bị cáo Kh được hưởng tìnhậntiết giảm nhẹ tại điểm h, khoản 1 Điều 51 (phạm tội chưa gây thiệt hại), để áp dụng đối với hànhậnvi phạm tội với bị hại M. Xét thấy, ý kiến của vị luật sư bào chữa cho bị cáo Kh là không phù hợp trong vụ án này, bị cáo thực hiện hànhậnvi phạm tội nhiều lần nên không thể tách để áp dụng tìnhậntiết giảm nhẹ này trong cùng một tội phạm tội nhiều lần.

[6] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

- Trong vụ lừa bị hại Lê Công Th chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng, sau đó giữa bị cáo Kh và bị hại Th đã thỏa thuận giải quyết khoản tiền 600.000.000 đồng. Bị hại Th không yêu cầu bị cáo Kh phải trả lại số tiền này, nên cần ghi nH;

- Bị cáo Kh đã dùng giấy chứng nhậnĐ ký xe ô tô giả để vay tiền rồi chiếm đoạt của bị hại H số tiền 200.000.000 đồng, đã đóng lãi 20.000.000 đồng. Xét thấy đây là giao dịch dân sự không được pháp luật thừa nhậnnên số tiền đóng lãi 20.000.000 đồng được xem như khoản tiền bị cáo Kh đã trả cho bị hại H, cần buộc bị cáo Kh phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H số tiền 180.000.000 đồng là phù hợp;

- Buộc các bị cáo Ch, Đ và H và những người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết H, Lê SanhậnHồng T phải có Ngh vụ trả lại cho bị cáo Kh số tiền mà bị cáo Kh đã chiếm đoạt 600.000.000 đồng của bị hại Th chia cho các bị cáo và những người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan (cụ thể: bị cáo H 20.000.000 đồng, bị cáo Ch 7.000.000 đồng, bị cáo Đ 15.000.000 đồng, bà H 15.000.000 đồng, anhậnT 3.000.000 đồng) là phù hợp;

- Trong quá trìnhậnđiều tra, truy tố; bị cáo Nguyễn Văn H giao nộp số tiền 20.000.000 đồng (bút lục số 0170); bị cáo HuỳnhậnVăn Ch giao nộp số tiền 32.000.000 đồng (bút lục số 0178); bị cáo Nguyễn M Đ giao nộp số tiền 15.000.000 đồng (bút lục số 0179); anhậnLê SanhậnHồng T giao nộp 3.000.000 đồng (bút lục số 0172) để đảm bảo thi hànhậnán, nên cần ghi nH.

- Do bị cáo Kh còn có Ngh vụ bồi thường cho bị hại H, nên tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 59.000.000 đồng (do bị cáo H nộp 20.000.000 đồng, bị cáo Ch nộp 32.000.000 đồng, bị cáo Đ nộp 15.000.000 đồng, anhậnLê SanhậnHồng T nộp 3.000.000 đồng) theo Biên bản giao nhậnvật chứng ngày 10/9/2020 giữa Cơ quan Cảnhậnsát điều tra Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hànhậnán dân sự tỉnh Bến Tre, để đảm bảo thi hànhậnán là phù hợp.

- Đối với bị cáo Ch đã nhậntiền làm giả tài liệu cho bị cáo Kh 02 lần là 25.000.000 đồng (lần lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của ông M thì tiền làm giả tài liệu là 15.000.000 đồng và lần lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của ông Th thì tiền làm giả tài liệu là 10.000.000 đồng) nên cần buộc bị cáo Ch giao nộp để sung quỹ Nhà nước là phù hợp. Ngoài ra; bị cáo Ch còn thừa nhậncó làm giả 06 giấy phép lái xe (gồm: 04 giấy loại A1 giá tiền 1.000.000 đồng/giấy; 01 giấy loại A2 giá 1.500.000 đồng; 01 giấy xe ô tô của bị cáo Kh dùng lừa bà H giá 2.000.000 đồng) thu lợi bất chínhậnsố tiền 7.500.000 đồng, bị cáo Ch đồng ý giao nộp lại số tiền này để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên; xét thấy Cơ quan điều tra chỉ thu giữ được 01 giấy xe ô tô của bị cáo Kh dùng lừa bà H giá 2.000.000 đồng, 01 giấy loại A1 giá tiền 1.000.000 đồng và 01 giấy loại A2 giá 1.500.000 đồng, tổng cộng chỉ thu giữ được 03 giấy phép lái xe giá tiền 4.500.000 đồng; vì vậy cần buộc bị cáo Ch phải giao nộp khoản tiền thu lợi bất chínhậntừ việc làm giả 03 giấy phép lái xe để sung quỹ Nhà nước số tiền 4.500.000 đồng. Đối với 03 giấy phép lái xe còn lại loại A1 giá tiền 1.000.000 đồng/giấy x 3 = 3.000.000 đồng thì Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên không có cơ sở để xử lý; tuy nhiên bị cáo Ch tự nguyện giao nộp 3.000.000 đồng này để sung quỹ Nhà nước nên ghi nH. Như vậy: buộc bị cáo Ch nộp sung quỹ Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chínhậntừ việc làm giả tài liệu là 29.500.000 đồng; đồng thời ghi nhậnbị cáo Ch tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chínhậntừ việc làm giả tài liệu là 3.000.000 đồng này để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với những vật chứng là điện thoại di động do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp. Tuy nhiên cần tuyên trả lại các sim số điện thoại cho các bị cáo; đối với bị cáo Đ không yêu cầu nhậnlại 02 sim số điện thoại 0949495090 và 0773177990 nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO cùng sim số 0918100279 của bị cáo Kh nhưng không sử dụng vào việc phạm tội, nên tuyên trả lại cho bị cáo Kh là phù hợp;

- Đối với các vật chứng là tài liệu do Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trìnhậnđiều tra và đã được đánhậnsố bút lục trong hồ sơ vụ án, cần tịch thu và tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

[8] Về những nội dung khác:

- Đối với Lê Công Th cho vay số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 10%/ tháng đầu tiên (gồm 05% lãi tiền vay của Th và 05% tiền công giới thiệu của bà H); Võ Thị Thanhậnhậncho Kh vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, thời gian từ 10/10/2019 đến 10/11/2019. Ông Th và bà H thu lợi bất chínhậnsố tiền dưới 30.000.000 đồng, chưa lần nào bị xử phạt hànhậnchínhậnvề hànhậnvi này, chưa bị kết án về tội này nên không phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do ông Th và bà H cho vay không cầm cố tài sản nên không bị xử phạt vi phạm hànhậnchínhậntheo quy địnhậntại điểm b khoản 3 Điều 11 của Nghị địnhậnsố: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chínhậnphủ;

- Đối với bị cáo Nguyễn M Đ cho rằng đã nhậncủa người khác để đặt bị cáo Ch làm giả 04 giấy phép lái xe mô tô gồm: 02 giấy hạng A1, mỗi giấy là 1.500.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 500.000 đồng mỗi giấy; 01 giấy hạng A2 với số tiền 1.8000.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 500.000 đồng; 01 giấy hạng B2 với số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo hưởng lợi 1.000.000 đồng, tổng cộng bị cáo hưởng lợi 2.500.000 đồng. Xét thấy chưa đủ cơ sở vững chắc nên không xem xét xử lý.

[9] Kiểm sát viên đề nghị về tội danh, mức hìnhậnphạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của vụ án đối với các bị cáo là phù hợp với nhậnđịnhậncủa Hội đồng xét xử nên được chấp nH. Tuy nhiên, đối với đề nghị hìnhậnphạt của bị cáo Kh từ 09 đến 11 năm tù về “ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là quá nghiêm khắc, vì bị cáo phạm tội chưa Đ, tự ý nửa chừng không thực hiện hànhậnvi phạm tội, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại theo quy địnhậntại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhậnsự. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ so với đề nghị của Viện kiểm sát. Đối với “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 đối với bị cáo Kh là phù hợp vì bị cáo sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức để phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa Đ, bị cáo có 02 tìnhậntiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhậnsự.

[10] Đối với quan điểm của người bào chữa:

Các đề nghị của các luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị áp dụng hìnhậnphạt cho các bị cáo dưới mức hìnhậnphạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị là chưa nghiêm, chưa tương xứng với tínhậnchất, mức độ hànhậnvi phạm tội của bị cáo, nên không được Hội đồng xét xử chấp nH; Riêng đối với hìnhậnphạt của luật sư bào chữa cho bị cáo Kh có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nH.

[11] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy địnhậncủa pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về trách nhiệm hìnhậnsự: Tuyên bố các bị cáo:

Nguyễn Văn Kh, Nguyễn M Đ, Nguyễn Văn Kh, Nguyễn Văn H phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; HuỳnhậnVăn Ch (Mười) phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

1.1

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 14 (mười bốn) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 02 (hai) năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 03 (ba) năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự. Tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chấp hànhậnhìnhậnphạt Ch là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn tù tínhậntừ ngày 29/11/2019.

1.2

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ 07 (bảy) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ 03 (ba) năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn M Đ 03 (ba) năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự. Tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn M Đ phải chấp hànhậnhìnhậnphạt Ch là 13 (mười ba) năm tù.

1.3

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự. Tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hànhậnhìnhậnphạt Ch là 07 (bảy) năm tù; Thời hạn tù tínhậntừ ngày 29/11/2019.

1.4

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 06 (sáu) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (một) năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 02 (hai) năm tù về “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự. Tổng hợp hìnhậnphạt cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chấp hànhậnhìnhậnphạt Ch là 09 (chín) năm tù; Thời hạn tù tínhậntừ ngày 08/10/2021.

1.5

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo HuỳnhậnVăn Ch 05 (năm) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hìnhậnsự. Xử phạt bị cáo HuỳnhậnVăn Ch 03 (ba) năm tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hìnhậnsự. Tổng hợp hìnhậnphạt cả 02 tội, buộc bị cáo HuỳnhậnVăn Ch phải chấp hànhậnhìnhậnphạt Ch là 08 (tám) năm tù; Thời hạn tù tínhậntừ ngày 29/11/2019.

[2] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hìnhậnsự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

- Ghi nhậnông Lê Công Th không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Kh phải bồi thường số tiền 600.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh bồi thường cho bà Võ Thị Thanhậnhậnsố tiền 180.000.000 đ (một trăm tám mươi triệu đồng).

Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hànhậnán có đơn yêu cầu thi hànhậnán, số tiền bồi thường nêu trên nếu chưa được thi hànhậnthì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy địnhậntại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hìnhậnsự;

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H trả cho bị cáo Nguyễn Văn Kh số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Ghi nhậnbị cáo Nguyễn Văn H đã giao nộp xong số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán;

- Buộc bị cáo HuỳnhậnVăn Ch trả cho bị cáo Nguyễn Văn Kh số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng;

- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết H trả cho bị cáo Nguyễn Văn Kh số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng;

- Buộc anhậnLê SanhậnHồng T trả cho bị cáo Nguyễn Văn Kh số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng. Ghi nhậnanhậnLê SanhậnHồng T đã giao nộp xong số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán;

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 59.000.000 (năm mươi chín triệu) đồng - (do bà Nguyễn Thị Hoa Thơ nộp 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán cho bị cáo Nguyễn Văn H; do bà Nguyễn Thị ThanhậnThúy nộp 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán cho bị cáo HuỳnhậnVăn Ch; do bị cáo Nguyễn M Đ nộp 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán; do anhậnLê SanhậnHồng T nộp 3.000.000 (ba triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán) theo Biên bản giao nhậnvật chứng ngày 10/9/2020 giữa Cơ quan Cảnhậnsát điều tra Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hànhậnán dân sự tỉnh Bến Tre, để bảo đảm thi hànhậnán.

[4] Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hìnhậnsự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hìnhậnsự;

[4.1] Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

* Của bị cáo Nguyễn Văn Kh:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 357345080924457, IMEI 2: 357325085522456, đã niêm phong.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đen, mặt lưng có số seri: S/N: R58KB2F6DAR; số IMEI 1: 352987104128428, IMEI 2: 352988104128426, đã niêm phong.

* Của bị cáo Nguyễn Văn H:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số seri 1: 354893081195349, số seri 2: 354893081195356, đã niêm phong.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, đã niêm phong.

* Của bị cáo Nguyễn M Đ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu đen cùng 02 sim số 0949495090 và 0773177990, đã niêm phong.

* Của bị cáo HuỳnhậnVăn Ch: 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng, trầy xướt nhiều nơi, không kiểm tra tìnhậntrạng hoạt động của máy và bên trong máy, đã niêm phong.

(Theo Biên bản giao nhậnvật chứng ngày 10/9/2020 giữa Cơ quan Cảnhậnsát điều tra Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hànhậnán dân sự tỉnh Bến Tre).

* Buộc bị cáo HuỳnhậnVăn Ch giao nộp để sung quỹ Nhà nước tổng số tiền thu lợi bất chínhậntừ việc làm giả tài liệu là: 29.500.000 (hai mươi chín triệu năm trăm ngàn )đồng.

* Ghi nhậnbị cáo HuỳnhậnVăn Ch tự nguyện giao nộp sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chínhậntừ việc làm giả tài liệu là: 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Đối với bị cáo HuỳnhậnVăn Ch phải thi hànhậnán tổng số tiền là: 39.500.000 (ba mươi chín triệu năm trăm ngàn) đồng - (gồm: trả cho bị cáo Nguyễn Văn Kh 7.000.000 (bảy triệu) đồng và nộp tiền thu lợi bất chínhậnđể sung công quỹ Nhà nước 32.500.000 đồng). Bà Nguyễn Thị ThanhậnThúy đã nộp trước số tiền 32.000.000 (Ba mươi hai triệu) đồng để bảo đảm thi hànhậnán cho bị cáo HuỳnhậnVăn Ch. Buộc bị cáo HuỳnhậnVăn Ch phải nộp tiếp số tiền còn lại là: 7.500.000 (bảy triệu năm trăm ngàn) đồng.

[4.2] Trả lại cho:

- Bị cáo Nguyễn Văn Kh: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, mặt lưng có chữ “OPPO CE07000” cùng sim số 0918100279, đã niêm phong.

- Bị cáo Nguyễn Văn Kh: 04 (bốn) sim số điện thoại: 0913599096; 0963356319, mật khẩu “12345”; 0799670527 và 0944654038.

- Bị cáo Nguyễn Văn H: 03 (ba) sim số điện thoại: 0327934669; 0832037089 và 0845466698.

(Theo Biên bản giao nhậnvật chứng ngày 10/9/2020 giữa Cơ quan Cảnhậnsát điều tra Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hànhậnán dân sự tỉnh Bến Tre).

[4.3] Tịch thu để tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án: đối với các vật chứng đã được nêu ở phần trên của Bản án (từ trang 6 đến trang 9), đây là những tài liệu do Cơ quan Cảnhậnsát điều tra Công an tỉnh Bến Tre đã thu giữ trong quá trìnhậnđiều tra và đã được đánhậnsố bút lục đưa vào làm tài liệu hồ sơ vụ án.

[5] Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hìnhậnsự; áp dụng Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hìnhậnsự sơ thẩm và 9.000.000 (chín triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo HuỳnhậnVăn Ch phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hìnhậnsự sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn M Đ phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hìnhậnsự sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hìnhậnsự sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hìnhậnsự sơ thẩm.

[6] Về quyền và thời hạn kháng cáo: các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và Ngh vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Nếu vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậnđược Bản án hoặc niêm yết Bản án.

[7] Về thi hànhậnán: trong trường hợp Bản án, quyết địnhậnđược thi hànhậntheo quy địnhậntại Điều 2 Luật Thi hànhậnán dân sự thì người được thi hànhậnán dân sự, người phải thi hànhậnán dân sự có quyền thỏa thuận thi hànhậnán, quyền yêu cầu thi hànhậnán, tự nguyện thi hànhậnán hoặc bị cưỡng chế thi hànhậnán theo quy địnhậntại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hànhậnán dân sự; thời hiệu thi hànhậnán được thực hiện theo quy địnhậntại Điều 30 Luật Thi hànhậnán dân sự.

Cỡ chữ