vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 04/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 04- 5- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Sơn

Ông Mai Xuân Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu- Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Trường Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo: HUỲNH VĂN Đ. Sinh năm: 1994, tại Đà Nẵng. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 18, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn C và bà Võ Thị D; Tên vợ Nguyễn Thị Thảo V có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Ngày 10/9/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tuyên phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/10/2012 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tuyên phạt 36 tháng tù về tội cướp giật tài sản. Bị cáo hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1. Ông Huỳnh Trần N. Sinh năm: 1994 Trú tại: 57 Trần Khánh D, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt; 2. Ông Nguyễn Võ Hoàng L. Sinh năm: 1994 Trú tại: 57 Trần Khánh D, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA: Bà Huỳnh Thị Ngọc M. Sinh năm: 1998 Trú tại: Tổ 18, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00 ngày 23/11/2021, Huỳnh Văn Đ dùng xe đạp điện nhãn hiệu Vinfast, màu xanh đen để đi chợ mua đồ dùng. Khi đi ngang qua phòng trọ số 57 Trần Khánh Dư, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, Đ nhìn thấy cửa phòng trọ đang khép hờ, không khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Đ mở cửa vào phòng trọ, đi lên gác lửng thì thấy ông Huỳnh Trần N đang nằm ngủ, bên cạnh có 01 điện thoại di động Iphone 7 plus, 01 đồng hồ đeo tay thông minh. Đ đã lén lút lấy 01 điện thoại di động Iphone 7 plus của ông Huỳnh Trần N và 01 đồng hồ đeo tay thông minh ông Nguyễn Võ Hoàng L bỏ vào túi quần đem về nhà cất giấu.

Sau khi bị mất tài sản, ông Huỳnh Trần N cùng với bạn là ông Nguyễn Võ Hoàng L sang chủ nhà trọ để xin xem camera và phát hiện có 01 nam thanh niên mở cửa phòng trọ đi vào. Đến ngày 24/11/2021, khi ông N và ông L đi đến đường Tôn Thất Thiệp thì phát hiện tại trước số nhà 71 Tôn Thất Thiệp có chiếc xe đạp điện màu xanh đen để trước cửa và thấy nam thanh niên có hình ảnh như video trước đó. Nghi ngờ người này đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên ông N đã trình báo công A phường Mỹ A.

Khoảng 16h30 ngày 24/11/2021, Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tiến hành làm việc với Huỳnh Văn Đ, thì Đ đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-NHS ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ông Huỳnh Trần N và ông Nguyễn Võ Hoàng L không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Về vật chứng: Ngày 22/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng ra Quyết định xử lý vật chứng số 03 trả lại 01 điện thoại di động Iphone 7 plus cho ông Huỳnh Trần N và 01 đồng hồ đeo tay thông minh cho ông Nguyễn Võ Hoàng L là có căn cứ.

Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu Vinfast, màu xanh đen là tài sản của bà Huỳnh Thị Ngọc M là chị ruột của Đ, được mua vào năm 2020. Việc bị cáo Huỳnh Văn Đ lấy chiếc xe đạp điện trên dùng để đi trộm cắp tài sản thì bà M không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà M là có căn cứ.

Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/11/2021, tại phòng trọ số 57 Trần Khánh Dư, phường Mỹ an, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, Huỳnh Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 7 plus của ông Huỳnh Trần N và 01 đồng hồ đeo tay thông minh của ông Nguyễn Võ Hoàng L, có tổng giá trị là 3.280.000 đồng [3]

Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 15/CT-VKS-NHS ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Huỳnh Văn Đ là người chồng người cha, lẽ ra bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn mục đích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Huỳnh Trần N và ông Nguyễn Võ Hoàng L.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn Đ đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản cho những người bị hại mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo đã có tiền án; ngày 10/9/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tuyên phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và có nhân thân xấu; ngày 30/10/2012 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tuyên phạt 36 tháng tù về tội cướp giật tài sản. Mặc dù đã có tiền án và nhân thân xấu nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo Đ một mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một mức án khi lượng hình. [4] Xét về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ông Huỳnh Trần N và ông Nguyễn Võ Hoàng L không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. [5] Xét về vật chứng: Ngày 22/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng ra quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 22/12/2021 trả lại 01 điện thoại di động Iphone 7 plus cho ông Huỳnh Trần N và 01 đồng hồ đeo tay thông minh cho ông Nguyễn Võ Hoàng L là có căn cứ nên không đề cập đến.

Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu Vinfast, màu xanh đen là tài sản của bà Huỳnh Thị Ngọc M là chị ruột của Đ, được mua vào năm 2020. Việc bị cáo Huỳnh Văn Đ lấy Cếc xe đạp điện trên dùng để đi trộm cắp tài sản thì bà M không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng ra quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 22/12/2021 trả lại cho bà M là có căn cứ nên không đề cập đến. [6] Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành S tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 04/5/2022.

Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ