vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 29/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thái Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Thái Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2021. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Thái Q tội ma tuy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thái Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST.
Ngày 05/5/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Sĩ.

Ông Nguyễn Hoàng Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS, ngày 08 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với:

Bị cáo Trần Thái Q, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986, nơi sinh tại tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 3, phường Đông H, Thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Nơi tạm cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (chết) và bà Đỗ Thanh L, sinh năm 1960; anh, chị, em ruột gồm có 02 người (kể cả bị cáo) lớn nhất là bị cáo, nh nhất sinh năm 1988. Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 10/12/2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Xấu; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2021, đến ngày 24/12/2021 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.

Người làm chứng: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp N, xã M , huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm:

- 04 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 659/MT; 659/M1; 659/M2; 659/M3 cùng ghi ngày 23/12/2021 với dấu hình tròn màu đ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký mang tên Nguyễn Văn M, Ngô Đức G.

- 01 điện thoại đi động cảm ứng, màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong;

- 01 điện thoại di động màu vàng - xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong;

- 01 cân điện tử màu đen; 01 túi nylon trong suốt, kính thước 31 x 120 cm, được cuộn tròn;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh, 01 ống hút màu xanh có đoạn co giãn;

- 01 bóp da màu đen, 01 hộp kim loại; 01 bóp da màu đen, có chữ Monohsic màu trắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 11 năm 2021, bị can Trần Thái Q đến ở một mình tại căn chòi lá của bà Lê Thị Đ ngụ ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đến khoảng giữa tháng 12 năm 2021, bị can Trần Thái Q mua 1.500.000 đồng ma túy tổng hợp (ma túy đá) của một người không rõ họ tên, địa chỉ tại thành phố Trà Vinh. Sau đó, bị can đem số ma túy này về chia ra làm 08 tép nh , bị can lấy 01 tép sử dụng, còn lại 07 tép bị can để trong hộp kim loại và cất giấu tại chòi lá, mục đích để sử dụng.

Đến khoảng 11 giờ ngày 21/12/2021, bị can lấy 01 tép để vào túi quần phía trước bên phải đi đến khu vực nhà mồ gần chòi lá để sử dụng, khi bị can đi đến đường nhựa thuộc ấp N, xã M , huyện C, tỉnh Trà Vinh thì thấy lực lượng Công an nên bị can lấy tép ma túy trong túi quần ra ném b vào đám c cặp đường nhựa và b chạy, liền lúc này lực lượng Công an huyện Cầu Ngang phát hiện nên tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thái Q, thu giữ trực tiếp tại hiện trường 01 tép ma túy và niêm phong ký hiệu MT; quản lý trên người của bị can tiền Việt Nam 1.483.000 đồng, 02 điện thoại di động (đều được niêm phong).

Tiếp sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị can tại là căn chòi lá ngụ ấp N, xã M, huyện C, quản lý niêm phong các đồ vật gồm: 01 ống thủy tinh có đoạn cong không rõ hình dạng chứa ma túy được niêm phong kí hiệu M1; 01 hộp kim loại có chứa 06 tép ma túyniêm phong ký hiệu M2; 01 chai thủy tinh có chứa chất ma túy niêm phong ký hiệu M3; 01 cân điện tử; 01 túi ny lon; 02 bóp da và các đồ vật khác có liên quan. Vật chứng được niêm phong có các ký hiệu: MT, M1, M2, M3 đều được gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh giám định.

Căn cứ Kết luận giám định số: 659/KLGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận:

- Gói 01: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon trong suốt được niêm phong ký hiệu MT gửi giám định là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,2195 gam.

- Gói 02: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) ống thủy tinh không rõ hình dạng được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,0530 gam.

- Gói 03: Tinh thể màu trắng chứa trong 06 (sáu) túi nylon trong suốt được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là Ma túy; Loại: Methamphetamine; tổng khối lượng: 0,7634 gam.

- Gói 04: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) chai thủy tinh trong suốt, nắp nhựa màu xám được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 2,8718 gam.

Tổng khối lượng ma túy là: 3,9077 gam.

Ngày 24/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Thái Q về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh tạm giam phục vụ công tác điều tra.

Đối với người thanh niên không rõ họ, tên, địa chỉ đã bán ma túy cho bị can Trần Thái Q, khi nào mời làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với bà Lê Thị Đ, khi bị can Q cất giấu ma túy trong chòi lá thì bà không hay biết nên không có cơ sở xử lý.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang đã trả lại cho bị can Trần Thái Q nhận số tiền 1.483.000 đồng (do không liên quan đến vụ án).

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-HS, ngày 07/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang quyết định truy tố bị can Trần Thái Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thái Q khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 21/12/2021, bị cáo có hành vi cất giấu 01 tép ma túy trong túi quần phía trước bên phải để sử dụng, khi bị cáo đang đi trên đường nhựa tại ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh để tìm nơi sử dụng ma túy thì phát hiện lực lượng Công an đến nên bị cáo lấy tép ma túy ném b vào trong đám c cặp đường nhựa, liền lúc này Công an huyện C tiến hành bắt người phạm tội quả tang, quản lý tại hiện trường 01 tép ma túy và niêm phong gửi giám định. Kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng là 0,2195 gam.

Công an tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của bị cáo, bên trong căn chòi lá ngụ ấp N, xã M , huyện C , tỉnh Trà Vinh, phát hiện bị cáo còn tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 3,6882 gam, loại: Methamphetamine. Bị cáo Trần Thái Q tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là: 3,9077 gam, loại: Methamphetamine.

Bị cáo thống nhất kết luận giám định số: 659/KLGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh.

Các tờ tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản h i cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn Biên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thái Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Thái Q nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 3,9077 gam, loại: Methamphetamine; mục đích tàng trữ để sử dụng, là vi phạm pháp luật, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thái Q khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản h i cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng giữa tháng 11 năm 2021, bị cáo đến ở một mình tại căn chòi lá của bà Lê Thị Đ ngụ ấp N, xã M, huyện C, đến khoảng giữa tháng 12 năm 2021, bị cáo mua 1.500.000 đồng ma túy tổng hợp (ma túy đá) của một người không rõ họ tên, địa chỉ tại thành phố Trà Vinh, bị cáo đem số ma túy này về chia ra làm 08 tép nh , bị cáo lấy ra 01 tép sử dụng, còn lại 07 tép bị cáo để trong hộp kim loại và cất giấu tại chòi lá, mục đích để sử dụng.

Đến khoảng 11 giờ ngày 21/12/2021, bị cáo lấy 01 tép ma túy để vào túi quần phía trước bên phải đi đến khu vực nhà mồ gần chòi lá để sử dụng, khi đi đến đường nhựa ấp N, xã M, huyện C thì thấy có lực lượng Công an nên bị cáo lấy tép ma túy trong túi quần ra ném b vào trong đám c cặp đường nhựa và b chạy, liền lúc này lực lượng Công an huyện C phát hiện và tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Trần Thái Q, thu giữ tại hiện trường 01 tép ma túy và niêm phong ký hiệu MT; quản lý trên người của bị cáo tiền Việt Nam 1.483.000 đồng, 02 điện thoại di động (đều được niêm phong).

Tiếp sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại căn chòi lá tại ấp N, xã M , huyện C, quản lý niêm phong các đồ vật gồm: 01 ống thủy tinh có đoạn cong không rõ hình dạng chứa ma túy được niêm phong kí hiệu M1; 01 hộp kim loại có chứa 06 tép ma túy niêm phong ký hiệu M2; 01 chai thủy tinh có chứa chất ma túy niêm phong ký hiệu M3; 01 cân điện tử; 01 túi ny lon; 02 bóp da và các đồ vật khác có liên quan.

Vật chứng được niêm phong có các ký hiệu: MT, M1, M2, M3 đều được gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh giám định. Căn cứ Kết luận giám định số: 659/KLGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận:

- Gói 01: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon trong suốt được niêm phong ký hiệu MT gửi giám định là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,2195 gam.

- Gói 02: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) ống thủy tinh không rõ hình dạng được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,0530 gam.

- Gói 03: Tinh thể màu trắng chứa trong 06 (sáu) túi nylon trong suốt được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là Ma túy; Loại: Methamphetamine; tổng khối lượng: 0,7634 gam.

- Gói 04: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) chai thủy tinh trong suốt, nắp nhựa màu xám được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là Ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 2,8718 gam.

Tổng khối lượng ma túy là: 3,9077 gam.

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Thái Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về ma túy, ma túy là chất độc hại, chất gây nghiện, ảnh hưởng đến sức kh e con người, đồng thời phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo nhận thức và biết rõ những tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội, bản thân bị cáo đã sử dụng ma túy nhiều lần nên bị nghiện, để th a mãn cơn nghiện bị cáo đã mua ma túy của 01 người không rõ địa chỉ đem về tàng trữ để sử dụng, từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với thủ đoạn hết sức tinh vi, nhằm trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay. Xét về nhân thân bị cáo có 01 tiền án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù, sau khi chấp hành xong hình phạt vào năm 2019, bị cáo không biết khắc phục hành vi sai trái vi phạm pháp luật của mình để hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, chấp hành tốt các quy định của pháp luật để làm người lương thiện, mà lại tiếp tục phạm tội mới là thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly ra kh i xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 04 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 659/MT; 659/M1; 659/M2; 659/M3 cùng ghi ngày 23/12/2021 với dấu hình tròn màu đ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký mang tên Nguyễn Văn M, Ngô Đức G. Đây là chất ma túy, cấm lưu hành.

Các vật chứng gồm: 01 cân điện tử màu đen; 01 túi ny lon trong suốt, kính thước 31 x 120 cm, được cuộn tròn; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh, 01 ống hút màu xanh có đoạn co giãn; 01 bóp da màu đen, 01 hộp kim loại; 01 bóp da màu đen, có chữ Monohsic màu trắng. Bị cáo đã sử dụng các công cụ này để chia ma túy ra nhiều tép nh để sử dụng và tàng trữ ma túy.

Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng nêu trên.

- Đối với vật chứng gồm: 01 điện thoại đi động cảm ứng, màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong; 01 điện thoại di động màu vàng - xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong, bị Công an thu giữ phục vụ điều tra vụ án, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị cáo.

. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thái Q nộp 200.000 đồng.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thái Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thái Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 04 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 659/MT; 659/M1; 659/M2; 659/M3 cùng ghi ngày 23/12/2021 với dấu hình tròn màu đ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký mang tên Nguyễn Văn M, Ngô Đức G.

- 01 cân điện tử màu đen; 01 túi nylon trong suốt, kính thước 31 x 120 cm, được cuộn tròn;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh, 01 ống hút màu xanh có đoạn co giãn;

- 01 bóp da màu đen, 01 hộp kim loại; 01 bóp da màu đen, có chữ Monohsic màu trắng.

Tuyên trả cho bị cáo Trần Thái Quang:

- 01 điện thoại đi động cảm ứng, màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong;

- 01 điện thoại di động màu vàng - xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong;

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thái Q nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ